Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 474/2024/HS-PT

Ngày: 04 - 6 -2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Văn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Nhã và ông Trần Đức Hiếu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 888/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Đoàn Thị Mai K, Phạm Nữ A về tội Tổ chức đánh bạc; các bị cáo Phạm Đức V, Nguyễn Kim T1, Trần Thị Minh H, Trần Thúy N về tội Đánh bạc do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1975, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: 215 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: số E ngách E ngõ D đường T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình T2 và bà Lê Thị X (đã chết); chồng Cao Tử L; có 02 con, lớn sinh năm 2000, bé sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/03/2023 đến 25/4/2023; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  2. Phạm Nữ A, sinh năm 1970, tại Hà Nội; Nơi cư trú: phòng A N, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T3 (đã chết) và bà Hoàng Thị H1 (đã chết); chồng Nguyễn Văn T4; có 02 con, lớn sinh năm 1991, bé sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/03/2023 đến 28/04/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  3. Đoàn Thị Mai K, sinh năm 1971, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: số B ngõ D đường H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: khu 7,2ha, phường V, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Thanh T5 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; chồng Nguyễn Hải H2 (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 1990, bé sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt từ ngày 08/03/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H. (Có mặt)
  4. Phạm Đức V, sinh năm 1966, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: E Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: khu 7,2ha, phường V, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T6 (đã chết) và bà Phạm Thị B (đã chết); vợ Nguyễn Thanh H3 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Nhân thân:
    • Bản án số 365/2003/HSST ngày 28/08/2003 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm);
    • Bản án số 49/HSST ngày 04/3/1998, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân.
    • Bản án số 271/HSST ngày 17/5/1999, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân.
    • Năm 1986, bị Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Trộm căp tài sản công dân.
    • Năm 2001 bị Công an phường H xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
    • Năm 2001 bị Công an quận T bắt về hành vi Trộm cắp tài sản (không rõ hình thức xử lý).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/03/2023 đến 17/03/2023, hiện đang thi hành biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. (Vắng mặt)

  5. Nguyễn Kim T1, sinh năm 1976, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: số I ngõ A phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: P tòa nhà H, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T7 và bà Trần Thị Kim C; chồng Trần Anh T8, có 03 con, lớn sinh năm 2001, bé sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/03/2023 đến 17/04/2023; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  6. Trần Thị Minh H, sinh năm 1962, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: số G phố S, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: P02 tầng 8 tòa nhà K, A đường X, phường X, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C1 (đã chết) và bà Trần Thị T9; chồng Phạm Văn T10 (đã chết), có 02 con, lớn sinh năm 1987, bé sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/03/2023 đến 28/04/2023,; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Vắng mặt)
  7. Trần Thúy N, sinh năm 1973, tại Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT và cư trú: số F ngõ F đường N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C1 (đã chết) và bà Trần Thị T9; chồng Nguyễn Viết L1, có 02 con, lớn sinh năm 1999, bé sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/03/2023 đến 28/04/2023; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Ngoài ra còn có 10 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận T tiếp nhận tin báo của anh Ngô Đức C2 về việc Nguyễn Thị Kim T có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề cho nhiều người. Khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Kim T đến trụ sở Cơ quan cảnh sát điều tra làm việc theo triệu tập. Kiểm tra điện thoại của Nguyễn Thị Kim T, có nhiều tin nhắn có nội dung đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề cho Khuất Xuân H4, Phạm Thị N2, Phạm Nữ A, Nguyễn Thị Mai H5, Hoàng Thị V1, Cao Minh N3 và tin nhắn chuyển số lô, số đề cho Nguyễn Vân A1, Đông Thị T11.

Cùng ngày 08/03/2023, khi biết Nguyễn Thị Kim T bị Công an quận T triệu tập đến làm việc Khuất Xuân H4, Phạm Nữ A, Nguyễn Thị Mai H5, Nguyễn Vân A1, Đông Thị T11, Hoàng Thị V1 (Sinh năm: 1954; ĐKTT: số D đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội), Cao Minh N3 (Sinh năm: 1968; ĐKTT: số B T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội) cũng đến Công an quận T đầu thú về hành vi đánh bạc.

Biết tin Nguyễn Vân A1, Phạm Nữ A đến công an quận T làm việc liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề, Lê Thị Ngọc L2, Phan Anh H6, Nguyễn Văn P, Trần Đức P1 (Sinh năm: 1964; ĐKTT: P KĐT N, phường T, quận C, thành phố Hà Nội) cũng đến công an quận T đầu thú về hành vi đánh bạc của mình. Lê Thu H7 biết tin Lê Thị Ngọc L2 đến Công an quận đầu thú về hành vi đánh bạc, H7 cũng đến Công an quận T đầu thú về hành vi đánh bạc của mình.

Ngày 19/04/2023, Lâm Mạnh C3 biết tin Nguyễn Văn P bị khởi tố về tội Đánh bạc, C3 đã đến Công an quận T đầu thú về hành vi đánh bạc.

Kiểm tra điện thoại của Khuất Xuân H4 phát hiện tin nhắn thoả thuận việc chuyển các số lô với Đoàn Thị Mai K. Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận T đã tiến hành triệu tập Đoàn Thị Mai K đến trụ sở công an quận T để làm rõ.

Kiểm tra điện thoại của K phát hiện tin nhắn đánh bạc với Nguyễn Kim T1 và Phạm Đức V trong ngày 08/03/2023.

Biết Đoàn Thị Mai K bị triệu tập đến Công an quận T để làm việc về hành vi đánh bạc, Nguyễn Kim T1, Phạm Đức V, Trần Thúy N, Trần Thị Minh H đã đến công an quận T đầu thú về hành vi đánh bạc của mình.

Quá trình điều tra xác định các bị cáo thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc cụ thể như sau:

Cách thức tổ chức đánh bạc và đánh bạc được các bị cáo quy định dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 30 hàng ngày, số đề là 02 số cuối của giải đặc biệt, số lô là 02 số cuối của tất cả các giải, số lô xiên là 02 số cuối của 27 giải. Nếu người chơi thắng số đề sẽ được gấp 70 lần; nếu thắng số lô sẽ được 80.000đ/1 điểm lô; Đối với số lô xiên 2, 3, 4, nếu thắng sẽ được gấp 10 đối với lô xiên 2, 40 đối với số lô xiên 3 và 100 lần đối với lô xiên 4 so với số tiền người mua đã bỏ ra.

I. Hành vi tổ chức đánh bạc của các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Phạm Nữ A, Nguyễn Vân A1, Lê Thị Ngọc L2, Đoàn Thị Mai K:

1. Hành vi tổ chức đánh bạc của Nguyễn Thị Kim T:

Trong thời gian bán hàng ở dốc T, H8 thường xuyên mua hàng của T. Đầu tháng 3/2023, T có gặp lại H8 trên đường, H8 đề nghị chuyển các số lô, số đề cho H8. T không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ nhà của H8 cũng không liên lạc với H8 bằng điện thoại di động bao giờ.

Tuyến, Phạm Nữ A và Hoàng Thị V1 cùng thỏa thuận: Nữ A và Vụ trực tiếp bán số lô, số đề cho khách, sau đó tổng hợp lại và chuyển bảng cáp lô đề cho T để được hưởng hoa hồng. Ngoài ra, T trực tiếp bán số lô, đề cho người khác. Sau đó T tổng hợp lại, phần lớn số lô, số đề T chuyển cho H8, một phần nhỏ chuyển cho Vân A1 để được hưởng hoa hồng, T cắt lại một phần chuyển cho Đông Thị T11, nhưng T không nói cho T11 biết nguồn gốc số lô, số đề đó do đâu mà có, không nói cho T11 biết T tổ chức đánh bạc cho nhiều người. Khi bán số lô, số đề, Tuyến thu của Khuất Xuân H4 21.700 đồng/1 điểm lô, thu của Phạm Nữ A 21.750 đồng/1 điểm lô, thu của Phạm Thị N2, Nguyễn Thị Mai H5, Hoàng Thị V1 là 22.000 đồng/ 1 điểm lô. Tuyến chuyển cho Vân A1, Đông Thị T11 với giá 21.700 đồng/ 1 điểm lô. Tuyến thu của Khuất Xuân H4 58% tiền lô xiên, thu của Phạm Thị N2 63% tiền lô xiên, thu của Phạm Nữ A 70% tiền lô xiên. Tuyến thu của Khuất Xuân H4 72% tiền đề, thu của Phạm Nữ A 72,5% tiền đề, thu của Cao Minh N3, Hoàng Thị V1, Nguyễn Thị Mai H5 75% tiền đề. Chuyển cho Vân A1 71,7% tiền đề. Chuyển cho H8 21.700 đồng/1 điểm lô.

* Ngày 03/3/2023: Sau khi bán số lô, số đề cho khách, Nữ A nhắn tin chuyển toàn bộ 5.512 điểm lô tương đương với số tiền 119.886.000 đồng và 200.000 đồng tiền số đề đã bán được cho T. So với kết quả sổ xố miền bắc cùng ngày, bảng cáp lô, đề của Nữ A chuyển cho T không trúng số lô, đề nào. Tổng số tiền Nữ A, T đánh bạc ngày 03/03/2023 là 120.086.000 đồng. Cùng ngày, T bán cho khách vãng lai 750 điểm lô tương đương với số tiền 16.500.000 đồng (22.000 đồng/1 điểm lô). Tổng số tiền Tuyến bán số lô, số đề ngày 03/3/2023 là 136.586.000 đồng.

Sau đó, T sử dụng số điện thoại 0399.392.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0384.476.xxx của Đông Thị T11 chuyển cho T11 1.850 điểm lô tương đương với số tiền 40.145.000 đồng. So sánh với kết quả xổ số miền Bắc ngày 03/03/2023, T không trúng số nào. Tổng số tiền đánh bạc giữa T và T11 ngày 03/03/2023 là 40.145.000 đồng.

Đối với 4.412 điểm lô tương đương với số tiền 95.740.400 đồng (21.700 đồng/1 điểm lô) và 200.000 đồng tiền đề còn lại, T chuyển toàn bộ cho đối tượng H8 để hưởng hoa hồng. So sánh với kết quả xổ số miền Bắc ngày 03/03/2023, T không trúng số lô nào. Tổng số tiền lô đề T chuyển cho H8 ngày 03/03/2023 là 95.940.400 đồng.

Ngày 03/3/2023, T đã thu được số tiền 112.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của Nguyễn Văn P chuyển đến, số tiền 8.031.000 đồng do Nữ A thanh toán bằng tiền mặt, tổng cộng 136.531.000 đồng. Sau đó, T đã thanh toán cho T11 số tiền 40.145.000 đồng bằng tiền mặt, thanh toán cho H8 số tiền 95.883.800 đồng bằng tiền mặt. Như vậy ngày 03/3/2023, T đã thu lợi bất chính số tiền 502.200 đồng.

* Ngày 04/3/2023: Tuyến bán cho khách vãng lai 250 điểm lô tương ứng với số tiền 5.500.000 đồng (22.000 đồng/1 điểm lô). So sánh với kết quả xổ số miền Bắc ngày 04/03/2023, khách trúng 50 điểm lô tương ứng với số tiền thắng bạc là 4.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa T và khách vãng lai ngày 04/3/2023 là 9.500.000 đồng. Tuyến nhắn tin chuyển toàn bộ 250 điểm lô trên tương ứng với số tiền là 5.425.000 đồng cho T11. Như vậy tổng số tiền đánh bạc giữa T và T11 ngày 04/03/2023 là 9.425.000 đồng. T đã thu lợi bất chính số tiền 75.000 đồng.

* Ngày 05/3/2023: Tuyến bán cho Phạm Thị N2 200 điểm lô tương đương với số tiền 4.400.000 đồng (22.000 đồng/1 điểm lô). Sau đó, T đã chuyển các số lô trên cho H8. So sánh với kết quả xổ số miền bắc cùng ngày, N2 trúng 30 điểm lô tương đương với số tiền 2.400.000 đồng. Tổng số tiền Tuyến và N2 đánh bạc với nhau ngày 05/3/2023 là 6.800.000 đồng. T đã trả H8 6.740.000 đồng. Tuyến thu lợi bất chính 60.000 đồng.

* Ngày 07/3/2023: Tuyến bán cho Phạm Thị N2 60 điểm lô tương đương với số tiền 1.320.000 đồng và 500.000 đồng tiền lô xiên. So với kết quả sổ xố miền bắc cùng ngày, N2 không trúng số lô nào. Tổng số tiền N2, T đánh bạc ngày 07/03/2023 là 1.820.000 đồng.

Tuyến bán cho Nguyễn Thị Mai H5 165 điểm lô tương đương với số tiền 3.630.000 đồng (22.000 đồng/1 điểm lô), tổng số tiền đề là 350.000 đồng. So sánh với kết quả xổ số miền bắc cùng ngày H5 trúng 42,5 điểm lô tương đương với số tiền 3.400.000 đồng. Tổng số tiền H5, T đánh bạc ngày 07/3/2023 là 7.380.000 đồng.

Tổng số tiền Tuyến bán số lô, số đề ngày 07/3/2023 là 9.200.000 đồng. Sau đó, T đã chuyển toàn bộ số lô, số đề này cho H8. Tuyến, N2, H5, H8 chưa thanh toán tiền cho nhau.

* Ngày 08/3/2023: Nữ A chuyển bảng cáp lô đề cho T qua điện thoại và máy fax gồm 2.781.000 đồng tiền đề; 1.035 điểm lô tương đương với số tiền 22.511.250 đồng và 820.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền Nữ A, T đánh bạc ngày 08/3/2023 là 26.112.250 đồng.

Tuyến bán cho Khuất Xuân H4 22.720.000 đồng tiền đề; 600 điểm lô tương đương với số tiền 13.020.000 đồng (21.700 đồng/1 điểm lô) và 3.250.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền H4 mua số lô, số đề của Tuyến ngày 08/3/2023 là 38.990.000 đồng.

Tuyến bán cho Nguyễn Thị Mai H5 170 điểm lô tương đương với số tiền 3.740.000 đồng và 300.000 đồng tiền đề. Tổng số tiền H5, T đánh bạc ngày 08/3/2023 là 4.040.000 đồng.

Hoàng Thị V1 bán cho khách vãng lai 175.000 đồng tiền đề; 110 điểm lô tương đương với số tiền 2.420.000 đồng và 30.000 đồng tiền lô xiên. Sau đó, V1 sử dụng máy bàn số 0243.5620803 gọi điện đến số điện thoại 0399.318.xxx của Tuyến chuyển toàn bộ số lô, để trên cho T để hưởng hoa hồng. Tổng số tiền Tuyến, Vụ đánh bạc ngày 08/3/2023 là: 2.625.000 đồng.

Cao Minh N3 nhắn tin mua của T 1.310.000 đồng tiền đề và 200.000 đồng tiền lô xiên quay. Tổng số tiền Tuyến, Nam đánh bạc ngày 08/3/2023 là 1.510.000 đồng.

Do T bị triệu tập trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét tiền thắng thua. Tổng số tiền Tuyến tổ chức đánh bạc ngày 08/3/2023 là 73.277.250 đồng. Sau đó, T đã chuyển cho Vân A1 600 điểm lô tương ứng với số tiền 13.020.000 đồng; 24.130.000 đồng tiền đề và 5.510.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền Tuyến, Vân A1 đánh bạc ngày 08/3/2023 là 42.660.000 đồng.

Ngày 8/3/2023, T, Nữ A, Xuân H4, H5, V1 và N3 chưa thanh toán tiền cho nhau.

2. Hành vi tổ chức đánh bạc của Phạm Nữ A:

Phạm Nữ A làm nghề bán trà đá, hàng ngày bán số lô, đề cho khách vãng lai đến quán uống nước và cuối ngày tập hợp bảng cáp chuyển qua tin nhắn và máy fax cho T để hưởng tiền hoa hồng. Phạm Nữ A thu của Phan Anh H6 22.500 đồng/1 điểm lô; thu của Trần Đức P1, Nguyễn Văn P, khách vãng lai 22.000 đồng/ 1 điểm lô; chuyển cho Tuyến 21.750 đồng/ 1 điểm lô. Phạm Nữ A thu của Phan Anh H6, Trần Đức P1, khách vãng lai 80% tiền lô xiên, chuyển cho T 70% tiền lô xiên. Phạm Nữ A thu của Phan Anh H6, Trần Đức P1, khách vãng lai 80% tiền đề, chuyển cho Tuyến 72,5% tiền đề.

* Ngày 03/3/2023: Phạm Nữ A bán cho Nguyễn Văn P 5.100 điểm lô tương đương với số tiền 112.200.000 đồng. Bán cho khách vãng lai 412 điểm lô tương đương với 9.064.000 đồng và 200.000 đồng tiền đề. So với kết quả xổ số miền bắc cùng ngày, khách mua số lô số đề của Nữ A không trúng số nào. Tổng số tiền Phạm Nữ A đánh bạc ngày 03/3/2023 là 121.264.000 đồng. Sau đó, Phạm Nữ A đã chuyển toàn bộ số lô, số đề trên cho Nguyễn Thị Kim T. Nữ A đã thanh toán toàn bộ số tiền đánh bạc ngày 03/3/2023 cho T, đồng thời T đã trả số tiền hoa hồng cho Nữ A. Ngày 03/3/2023, Nữ A thu lợi bất chính số tiền 1.393.000 đồng.

* Ngày 08/03/2023: Phạm Nữ A bán cho Trần Đức P1 50 điểm lô tương đương với số tiền 1.100.000 đồng và 200.000 đồng lô xiên. Tổng số tiền Phạm Nữ A bán số lô, lô xiên cho Trần Đức P1 ngày 08/03/2023 là 1.300.000 đồng.

Phạm Nữ A bán cho Phan Anh H6 300 điểm lô tương đương với số tiền 6.750.000 đồng và 400.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền Nữ A bán số lô, lô xiên cho Phan Anh H6 ngày 08/03/2023 là 7.150.000 đồng.

Phạm Nữ A bán cho khách vãng lai 685 điểm lô tương đương với số tiền 15.412.500 đồng; 2.781.000 đồng tiền đề và 220.000 đồng tiền lô xiên.

Tổng số tiền Phạm Nữ A bán số lô, số đề ngày 08/03/2023 là 26.863.500 đồng. Nữ A đã chuyển toàn bộ số lô, số đề trên cho Nguyễn Thị Kim T. Phạm Nữ A chưa thu tiền của Trần Đức P1, Phan Anh H6; đã thu tiền của khách vãng lai khoảng 17.470.800 đồng, chưa chuyển số tiền này cho Nguyễn Thị Kim T.

3. Hành vi tổ chức đánh bạc của Nguyễn Vân A1:

Vân A1 quen biết xã hội với người phụ nữ tên Q, Vân A1 chỉ biết nhà Q ở khu vực Đ, B, Hà Nội. Vân A1 không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của Q. Vân A1 biết Q bán số lô, số đề. Cuối năm 2022, để kiếm thêm thu nhập, Vân A1 đã thỏa thuận với Q: Vân Anh bán số lô, số đề cho người khác, sau đó tổng hợp lại và chuyển cho người phụ nữ tên Q để được hưởng hoa hồng. Vân A1 thu từ 71,7% đến 73% số tiền đề khách đã mua các số đề sau đó chuyển lại cho Q 71,5% tiền đề; thu của khách từ 21.700 đến 22.000đ/01 điểm lô sau đó chuyển lại cho Q với giá 21.700 đồng/ 1 điểm lô và thu của khách từ 57% đến 65% số tiền lô xiên khách đã mua, sau đó chuyển cho Q 56% số tiền lô xiên.

* Ngày 08/3/2023: Vân A1 bán cho T 600 điểm lô tương ứng với số tiền 13.020.000 đồng; 24.130.000 đồng tiền đề và 5.510.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền Vân A1 bán số lô, số đề cho Tuyến ngày 08/3/2023 là 42.660.000 đồng.

Vân A1 đã bán cho Lê Thị Ngọc L2 1.710 điểm lô tương đương với số tiền 37.278.000 đồng (21.800 đồng/ 1 điểm lô); 930.000 đồng tiền lô xiên và 6.120.000 đồng tiền đề. Tổng số tiền Vân A1 bán số lô, số đề cho L2 ngày 08/3/2023 là 44.328.000 đồng.

Ngoài ra, Vân A1 trực tiếp bán số lô, đề cho khách vãng lai được 532 điểm lô tương đương với số tiền 11.704.000 đồng (22.000 đồng/ 1 điểm lô); 5.457.000 đồng tiền số đề và 2.392.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền lô, đề Vân A1 bán cho khách vãng lai ngày 08/3/2023 là 19.553.000 đồng. Vân A1 đã thu của khách số tiền khoảng 17.242.410 đồng.

Sau đó, Vân A1 đã chuyển toàn bộ số lô, số đề trên cho Q (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Tổng số tiền Vân A1 bán số lô, số đề ngày 08/3/2023 là 106.541.000 đồng.

4. Hành vi tổ chức đánh bạc của Lê Thị Ngọc L2:

Lê Thị Ngọc L2 thu của Lê Thu H7 và khách vãng lai 22.000 đồng/ 1 điểm lô và chuyển cho Vân A1 21.800 đồng/ 1 điểm lô; thu của Lê Thu H7 và khách vãng lai 70% tiền lô xiên và chuyển cho Vân A1 60% tiền lô xiên; thu của Lê Thu H7 và khách vãng lai 75% tiền đề và chuyển cho Vân A1 73% tiền đề. Ngày 08/3/2023, Lê Thị Ngọc L2 đã bán cho Lê Thu H7 1.229 điểm lô tương đương với 27.038.000 đồng; 660.000 đồng tiền lô xiên và 3.670.000 đồng tiền đề. Tổng số tiền L2 bán số lô, số đề cho H7 ngày 08/3/2023 là 31.368.000 đồng. Ngoài ra, Lê Thị Ngọc L2 bán cho khách vãng lai 481 điểm lô tương đương với 10.582.000 đồng; 270.000 đồng tiền lô xiên và 2.450.000 đồng tiền đề. Tổng số tiền L2 bán số lô, số đề cho khách vãng lai ngày 08/3/2023 là 14.422.000 đồng. Tổng số tiền Lê Thị Ngọc L2 tổ chức đánh bạc ngày 08/3/2023 là 45.790.000 đồng. Sau đó, Lê Thị Ngọc L2 đã chuyển toàn bộ số lô, số đề trên cho Nguyễn Vân A1. Tuy nhiên đối với tin nhắn thứ 9 thì Vân A1 không xác nhận lại. Do đó xác định Lê Thị Ngọc L2 đã chuyển cho Vân A1 44.670.000 đồng tiền số lô, số đề. Lê Thị Ngọc L2 chưa thu tiền của Lê Thu H7, đã thu tiền của khách vãng lai số tiền khoảng 13.448.500 đồng.

5. Hành vi tổ chức đánh bạc của Đoàn Thị Mai K:

Do không có công việc và thu nhập ổn định, khoảng đầu tháng 12/2022, K nhận bán số lô, số đề cho khách vãng lai tại nhà ở khu 72ha, phường V, quận B, thành phố Hà Nội và bán số lô, số đề cho khách thông qua điện thoại. Sau đó, K sẽ tổng hợp các bảng cáp, tin nhắn trong ngày rồi tự thanh toán tiền thắng thua với khách. Khanh thu của khách 21.700 đồng/ 1 điểm lô, 55% tiền lô xiên, 71% tiền đề.

* Ngày 08/3/2023: K bán cho Phạm Đức V 12.500.000 đồng tiền đề. K bán cho Nguyễn Kim T1 17.000 điểm lô tương đương 368.900.000 đồng; 74.500.000 đồng tiền đề và 7.500.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền lô, đề K bán cho T1 ngày 08/3/2023 là 450.900.000 đồng. Do K bị triệu tập trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét tiền thắng thua. Tổng số tiền Đoàn Thị Mai K tổ chức đánh bạc ngày 08/3/2023 là 463.400.000 đồng.

II. Hành vi đánh bạc của các bị cáo Nguyễn Văn P, Lâm Mạnh C3, Nguyễn Kim T1, Trần Thúy N, Trần Thị Minh H, Khuất Xuân H4, Phạm Thị N2, Nguyễn Thị Mai H5, Đông Thị T11, Lê Thu H7, Phạm Đức V, Phan Anh H6.

1. Bị cáo Lâm Mạnh C3:

Do có nhu cầu mua số lô, số đề nhưng không biết ở đâu bán, do đó ngày 03/3/2023, Lâm Mạnh C3 nhờ Nguyễn Văn P mua hộ 5.100 điểm lô tương đương với số tiền 112.200.000 đồng. P đồng ý và mua hộ C3 112.200.000 đồng tiền số lô, đề của Phạm Nữ A. So sánh với kết quả xổ số miền B cùng ngày thì không trúng. Tổng số tiền lô C3 đánh bạc ngày 03/3/2023 là 112.200.000 đồng. Toàn bộ số tiền mua số lô, số đề, C3 đã chuyển khoản cho Nguyễn Văn P.

2. Bị cáo Nguyễn Văn P:

Ngày 03/3/2023, khi được Lâm Mạnh C3 nhờ P mua hộ 5.100 điểm lô tương đương với số tiền 112.200.000 đồng. P đồng ý và mua của Phạm Nữ A 5.100 điểm lô tương đương với số tiền 112.200.000 đồng hộ C3. So sánh với kết quả xổ số miền B cùng ngày thì không trúng. Tổng số tiền lô P đánh bạc ngày 03/3/2023 là 112.200.000 đồng. Lâm Mạnh C3 đã chuyển khoản cho Nguyễn Văn P đủ số tiền trên. Sau đó, P đã chuyển vào tài khoản cho Nguyễn Thị Kim T số tiền 112.000.000 đồng và thanh toán tiền mặt cho Phạm Nữ A 200.000 đồng. P không được hưởng lợi gì khi mua số lô hộ Lâm Mạnh C3.

3. Bị cáo Nguyễn Kim T1:

Ngày 08/3/2023: Nguyễn Kim T1 mua của Đoàn Thị Mai K 17.000 điểm lô tương đương 368.900.000 đồng; 74.500.000 đồng tiền đề và 7.500.000 đồng tiền lô xiên. Do K bị triệu tập trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét tiền thắng thua. Tổng số tiền lô, đề T1 mua của K ngày 08/3/2023 là 450.900.000 đồng.

* Ngày 09/3/2023: Nguyễn Kim T1 mua của Trần Thúy N 10.000 điểm lô tương đương 220.000.000 đồng và 222.000.000 đồng tiền đề. Tổng số tiền lô đề T1 mua của N ngày 09/3/2023 là 442.000.000 đồng.

Cùng ngày, Nguyễn Kim T1 còn mua của Trần Thị Minh H 29.000 điểm lô tương đương 638.000.000 đồng; 106.000.000 đồng tiền đề. Tổng số tiền lô đề T1 mua của Trần Thị Minh H ngày 09/3/2023 là 744.000.000 đồng.

Do T1, N, Minh H đầu thú trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét thắng thua. Tổng số tiền lô, đề Nguyễn Kim T1 mua của Trần Thúy N, Trần Thị Minh H ngày 09/3/2023 là 1.186.000.000 đồng.

4. Bị cáo Trần Thúy N:

Trần Thúy N biết Nguyễn Kim T1 có mua số lô, số đề nên N đã nói với T1 nếu cần mua số lô, số đề thì mua của N. N thu của T1 22.000 đồng/ 1 điểm lô, 71% tiền đề. Ngày 09/3/2023, Trần Thúy N bán cho Nguyễn Kim T1 10.000 điểm lô tương đương với 220.000.000 đồng; 222.000.000 đồng tiền đề. Do N, T1 đầu thú trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét thắng thua. Tổng số tiền N đánh bạc ngày 09/3/2023 là 442.000.000 đồng.

5. Bị cáo Trần Thị Minh H:

Trần Thị Minh H biết Nguyễn Kim T1 có mua số lô, số đề nên Minh H đã nói với T1 nếu cần mua số lô, số đề thì mua của Minh H. Minh Hạnh thu của T1 22.000 đồng/ 1 điểm lô, 71% tiền đề. Ngày 09/3/2023, Trần Thị Minh H bán cho Nguyễn Kim T1 29.000 điểm lô tương đương 638.000.000 đồng và 106.000.000 đồng tiền đề. Do H, T1 đầu thú trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét thắng thua. Tổng số tiền Trần Thị Minh H đánh bạc ngày 09/3/2023 là 744.000.000 đồng.

6. Bị cáo Đông Thị T11:

T11 và T quen biết nhau khoảng 02 năm. Biết T11 bán số lô, số đề nên T đã nhắn tin cho T11 để mua số lô, số đề. Thúy thu của T 21.700 đồng/ 1 điểm lô.

* Ngày 03/3/2023: Tuyến sử dụng số điện thoại 0399.392.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0384.476.xxx của T11 để mua 1.850 điểm lô tương đương với số tiền 40.145.000 đồng (21.700 đồng/1 điểm lô). So sánh với kết quả xổ số miền Bắc ngày 03/03/2023, T không trúng số lô nào. Tổng số tiền đánh bạc giữa T, T11 ngày 03/03/2023 là 40.145.000 đồng. Tuyến đã thanh toán tiền cho T11. T11 thu lợi bất chính số tiền 40.145.000 đồng.

* Ngày 04/4/2023: Tuyến nhắn tin mua của T11 250 điểm lô tương ứng với số tiền là 5.425.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc ngày 04/03/2023, T trúng 50 điểm lô tương ứng với số tiền thắng bạc là 4.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa T và T11 ngày 04/03/2023 là 9.425.000 đồng. Tuyến và T11 đã thanh toán tiền thắng thua bằng tiền mặt. Ngày 04/3/2023, T11 thu lợi bất chính số tiền 1.425.000 đồng.

7. Bị cáo Khuất Xuân H4:

Do quen biết T đã lâu nên H4 biết T có bán số lô, số đề. Khi có nhu cầu đánh bạc, H4 sẽ nhắn tin mua số lô, số đề của T. Tuyến thu của H4 21.700 đồng/ 1 điểm lô, 58% tiền lô xiên, 72% tiền đề. Ngày 08/3/2023, H4 nhắn tin mua của T 22.720.000 đồng tiền đề; 600 điểm lô tương đương với 13.020.000 đồng (21.700 đồng/1 điểm lô) và 3.250.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền H4 mua số lô, đề của Tuyến ngày 08/3/2023 là 38.990.000 đồng

8. Bị cáo Lê Thu H7:

Ngày 08/3/2023, Lê Thu H7 đã mua của Lê Thị Ngọc L2 1.229 điểm lô tương đương với 27.038.000 đồng; 660.000 đồng tiền lô xiên và 3.670.000 đồng tiền đề. Tổng số tiền H7 đánh bạc ngày 08/3/2023 là 31.368.000 đồng.

9. Bi cáo Phạm Thị N2:

Do quen biết T đã lâu nên N2 biết T có bán số lô, số đề. Khi có nhu cầu đánh bạc, N2 sẽ nhắn tin mua số lô, số đề của T. Tuyến thu của N2 22.000 đồng/ 1 điểm lô, 63% tiền lô xiên.

* Ngày 05/3/2023: N2 mua của T 200 điểm lô tương đương với số tiền 4.400.000 đồng (22.000 đồng/1 điểm lô). So sánh với kết quả xổ số miền bắc cùng ngày, N2 trúng 30 điểm lô tương đương với số tiền 2.400.000 đồng. Tổng số tiền N2 đánh bạc ngày 05/3/2023 là 6.800.000 đồng.

* Ngày 07/3/2023: Nhã mua của T 60 điểm lô tương đương với số tiền 1.320.000 đồng và 500.000 đồng tiền lô xiên là. So với kết quả sổ xố miền bắc cùng ngày, N2 không trúng số lô nào. Tổng số tiền N2 đánh bạc ngày 07/03/2023 là 1.820.000 đồng.

10. Bị cáo Nguyễn Thị Mai H5:

Do quen biết T đã lâu nên H5 biết T có bán số lô, số đề. Khi có nhu cầu đánh bạc, H5 sẽ nhắn tin mua số lô, số đề của T. Tuyến thu của H5 22.000 đồng/ 1 điểm lô, 75% tiền đề.

* Ngày 07/3/2023: H5 mua của T 165 điểm lô tương đương với số tiền 3.630.000 đồng (22.000 đồng/1 điểm lô) và 300.000 đồng tiền số đề. So sánh với kết quả xổ số miền bắc cùng ngày, H5 trúng 40 điểm lô tương đương với số tiền 3.200.000 đồng. Tổng số tiền H5 đánh bạc ngày 07/3/2023 là 7.130.000 đồng.

* Ngày 08/3/2023: H5 mua của T 170 điểm lô tương đương với số tiền 3.740.000 đồng và 300.000 đồng tiền số đề. Tổng số tiền H5 đánh bạc ngày 08/3/2023 là 4.040.000 đồng.

11. Bị cáo Phan Anh H6:

Ngày 08/3/2023, Phan Anh H6 đã mua của Phạm Nữ A 300 điểm lô tương đương với số tiền 6.750.000 đồng và 400.000 đồng tiền lô xiên. Do Nữ A đầu thú trước khi có kết quả xổ số miền B cùng ngày nên không xem xét số tiền thắng thua. Tổng số tiền Phan Anh H6 đánh bạc ngày 08/3/2023 là 7.150.000 đồng.

12. Bị cáo Phạm Đức V:

Ngày 08/3/2023, Phạm Đức V đã mua của Đoàn Thị Mai K 12.500.000 đồng tiền đề. Do K bị triệu tập trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét tiền thắng thua. Tổng số tiền Phạm Đức V đánh bạc ngày 08/3/2023 là 12.500.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu ghi đã qua sử dụng, số IMEI: 353816081604979, điện thoại lắp có 01 sim điện thoại có số 8984048000324517346 của Nguyễn Thị Kim T.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, số IMEI: 355315085151614, bên trong chứa thẻ sim Mobifone ghi dãy số: 8401201112079204, đã qua sử dụng của Khuất Xuân H4.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, số IMEI: 356735083726803, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu xanh, số IMEI:353878100016973, đã qua sử dụng của Lê Thị Ngọc L2.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, đã qua sử dụng, màu trắng, IMEI in ngoài vỏ máy: 358361064147998, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel 4G, mã số in trên thẻ sim là 8984048000076093966; 01 máy fax nhãn hiệu Panasonic KX-FT983, màu đen đã qua sử dụng và 02 tờ giấy ghi các số lô, số đề của ngày 08/03/2023 có chữ ký xác nhận của Phạm Nữ A.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 màu hồng, đã qua sử dụng; IMEI 1: 355036112264978; IMEI 2: 355037112264976, của Lê Thu H7.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, đã qua sử dụng, không có số IMEI ghi trên thân vỏ máy của Nguyễn Vân A1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355345085606192, điện thoại lắp có 01 sim điện thoại của nhà mạng Viettel có số 8984048000034865526 trên thân sim của Phan Anh H6.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng, IMEI 353256075586520, của Phạm Thị N2.
  • 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, đã qua sử dụng, không có số IMEI trên thân vỏ và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, đã qua sử dụng, không có số IMEI trên thân vỏ của Đông Thị T11.
  • 01 điện thoại Iphone 7 Plus, vỏ màu vàng lắp sim điện thoại số 0888.368.xxx, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, IMEI: 359219075305113 của Nguyễn Thị Mai H5.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn P.
  • 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max không có IMEI trên vỏ máy, bị nứt vỡ ở phần lưng, đã qua sử dụng của Lâm Mạnh C3.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, đã qua sử dụng, IMEI 1: 353044114102164; số IMEI 2: 353044113744719 của Phạm Đức V.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 357272099831087, bên trong có lắp thẻ sim viễn thông V3, mang trên thân sim có in số: 8984048000063864115; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu hồng, đã qua sử dụng, có vết nứt vỡ ở phần mặt kính phía trước, IMEI: 353299070717922, bên trong có lắp thẻ sim mạng viễn thông V3, trên thân sim có in số: 8984044008813752035 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI: 353327070342290, bên trong có lắp thẻ sim mạng viễn thông V3, trên thân sim có in số: 8984048008822915095 của Đoàn Thị Mai K.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, đã qua sử dụng, màu vàng, không có IMEI in ngoài vỏ máy, IMEI 1: 353232109570673, IMEI 2: 353232108842313, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel 4G, mã số in trên thẻ sim là 89840 48000 90759 8415 của Nguyễn Kim T1.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu bạc, đã là sử qua dụng, I: 354390064870063, bên trong có chứa thẻ sim mạng Vinaphone, trên thân sim có số: 89840200010879872125 của Trần Thúy N.
  • 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu trắng vàng, có số imei 358354064021529, trong có số sim điện thoại 0983.791.xxx của Trần Thị Minh H.
  • 01 điện thoại di động nhân hiệu S Galaxy A12, đã qua sử dụng, màu đen của Trần Đức P1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 màu xanh hồng đã qua sử dụng của Hoàng Thị V1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, đã qua sử dụng, màu xanh, hở phần viền vỏ máy bên trái của Cao Minh N3.

Số tiền: 17.879.610 đồng (mười bảy triệu tám trăm bảy chín nghìn sáu trăm mười đồng) là số tiền hưởng lợi khi tổ chức đánh bạc mà Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Vân A1 tự nguyện giao nộp.

Tại kết luận 4417/KL-KTHS ngày 05/7/2023 của Phòng K2, Công an thành phố H kết luận: Các chữ số, chữ viết trong bảng cáp lô đề mà cơ quan điều tra tạm giữ của Phạm Nữ A và các chữ số, chữ viết trong bản tự khai do Phạm Nữ A viết là chữ do cùng một người viết ra.

Về số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo:

Nguyễn Thị Kim T đã thanh toán đủ tiền thắng thua các ngày 03/3/2023, 04/3/2023, 05/3/2023. Tổng số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị Kim T là 637.200 đồng. Tuyến đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận T số tiền thu lợi bất chính trên.

Nguyễn Vân A1 đã thu tiền bán số lô, số đề cho khách vãng lai, chưa thu tiền của Lê Thị Ngọc L2 và Nguyễn Thị Kim T và chưa chuyển tiền cho Q. Số tiền thu lợi bất chính ngày 08/3/2023 của Nguyễn Vân A1 là 17.242.410 đồng. Nguyễn Vân A1 đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận T số tiền trên.

Phạm Nữ A đã thu tiền khách vãng lai mua số lô, số đề của mình ngày 08/3/2023, đã nhận số tiền hoa hồng từ việc chuyển số lô, số đề cho Nguyễn Thị Kim T ngày 03/3/2023. Tổng số tiền thu lợi bất chính của Phạm Nữ A là 18.863.800 đồng.

Lê Thị Ngọc L2 đã thu tiền bán số lô, số đề cho khách vãng ngày 08/3/2023 nhưng chưa chuyển tiền cho Nguyễn Vân A1. Do đó, số tiền thu lợi bất chính của Lê Thị Ngọc L2 ngày 08/3/2023 là 13.448.500 đồng.

Đông Thị T11 đã thanh toán tiền thắng thua với Nguyễn Thị Kim T ngày 03/3/2023, 04/3/2023. Tổng số tiền Đông Thị T11 thu lợi bất chính là 41.570.000 đồng.

Đối với đối tượng H8: T khai thời gian trước Tuyến bán hàng ở dốc T, H8 thường xuyên mua hàng của T nên có quan hệ quen biết. Đầu tháng 3/2023, T có gặp lại H8 trên đường, H8 đề nghị chuyển các số lô, số đề cho H8. T không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ nhà của H8 cũng không liên lạc với H8 bằng điện thoại di động bao giờ. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành rà soát, truy tìm đối tượng H8.

Đối với đối tượng Q: Vân A1 khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của Q. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ, xử lý được.

Đối với Hoàng Thị V1: Nguyễn Thị Kim T và Vụ thỏa thuận: Vụ thu của khách 100% tiền đề sau đó chuyển lại cho Tuyến 75% số tiền đề; thu 100% tiền lô xiên sau đó chuyển lại cho T 65% tiền lô xiên; thu của khách 22.500 đồng/ điểm lô sau đó chuyển lại cho T với giá 22.000 đồng/điểm lô. Ngày 08/3/2023, V1 đã bán cho khách vãng lai 175.000 đồng tiền đề, 110 điểm lô tương đương với số tiền 2.475.000 đồng và 30.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền Vụ bán số lô, đề ngày 08/3/2023 là 2.680.000 đồng. Vụ đã sử dụng máy bàn số 0243.5620803 gọi điện đến số điện thoại 0399.318.xxx của Tuyến Vụ chuyển toàn bộ số lô, để trên cho T. Vụ và T chưa thanh toán tiền thắng thua. Số tiền Vụ bán lô, đề tiền dưới 5.000.000 đồng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự chưa về các tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, nên hành vi của V1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức Đánh bạc, Đánh bạc. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi trên của Hoàng Thị V1.

Đối với Cao Minh N3: Nam biết T có bán số lô, số đề. Khi có nhu cầu đánh bạc, N3 sẽ nhắn tin mua số lô, số đề của T. Tuyến thu của N3 63% tiền lô xiên, 75% tiền đề. Ngày 08/3/2023, N3 nhắn tin mua của T 1.310.000 đồng tiền đề và 200.000 đồng tiền lô xiên quay. Tổng số tiền N3 đánh bạc ngày 08/3/2023 là 1.510.000 đồng. Nhân thân của N3 chưa có tiền án, tiền sự về các tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, nên hành vi của N3 chưa cấu thành tội Đánh bạc. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc đối với Cao Minh N3.

Đối với Trần Đức P1: Ngày 08/3/2023, Trần Đức P1 đã mua của Phạm Nữ A 50 điểm lô tương đương với số tiền 1.100.000 đồng và 200.000 đồng lô xiên. Do Nữ A đầu thú trước khi có kết quả xổ số miền B cùng ngày nên không xem xét số tiền thắng thua. Tổng số tiền Trần Đức P1 đánh bạc ngày 08/3/2023 là 1.300.000 đồng. Số tiền P1 dưới 5.000.000 đồng; Nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự về các tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, nên hành vi của P1 chưa cấu thành tội Đánh bạc. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc đối với P1.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Trần Đức P1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 màu xanh hồng đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Thị V1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Cao Minh N3: Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận T đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại các tài sản trên cho Trần Đức P1, Hoàng Thị V1, Cao Minh N3. P1, Vụ, N3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 152/2023/HS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã quyết định:

  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Nguyễn Thị Kim T 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2023 đến ngày 25/4/2023.
  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Đoàn Thị Mai K 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2023.
  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Phạm Nữ A 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2023 đến ngày 28/4/2023.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Nguyễn Kim T1 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 17/4/2023.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Trần Thị Minh H 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 28/4/2023.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Trần Thúy N 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 28/4/2023.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Phạm Đức V 07 (bẩy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2023 đến ngày 17/3/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 03/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị Kim T kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo Phạm Đức V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Đến ngày 31/5/2024, bị cáo Phạm Đức V có đơn xin rút kháng cáo.
  • Ngày 04/10/2023, bị cáo Đoàn Thị Mai K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; đến ngày 04/6/2024, bị cáo có đơn xin rút kháng cáo.
  • Ngày 05/10/2023, bị cáo Trần Thúy N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Ngày 06/10/2023, bị cáo Nguyễn Kim T1, bị cáo Trần Thị Minh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Phạm Nữ A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Phạm Nữ A, Trần Thúy N, Nguyễn Kim T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi xem xét kháng cáo của các bị cáo đã đề nghị:

  • Áp dụng Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Phạm Đức V và Đoàn Thị Mai K.
  • Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Phạm Nữ A, Nguyễn Kim T1.
    • Sửa quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo T12'ần Thị Minh Hạnh và Trần Thúy N; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
      • Trần Thị Minh H 42 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”
      • Trần Thúy N 36 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Các quyết định khác của Bản án không có kháng cáo, không có kháng nghị có hiệu lực thi hành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Phạm Nữ A, Nguyễn Kim T1, Trần Thị Minh H, Trần Thúy N trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Đối các bị cáo Phạm Đức V và Đoàn Thị Mai K đã có đơn tự nguyện xin rút toàn bộ kháng cáo, nên căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo và bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Về sự vắng mặt của bị cáo Trần Thị Minh H: Mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị cáo vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án cũng đã phải hoãn phiên tòa nhiều lần do các bị cáo xin hoãn; nay thời hạn xét xử đã hết, nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét xử vắng mặt bị cáo.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra của các bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở khẳng định:

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim T:

Khoảng đầu tháng 3/2023, H8 nói với T bán số lô, số đề rồi chuyển cho H8, H8 sẽ trả hoa hồng, T đồng ý. Tuyến thỏa thuận với Phạm Nữ A và Hoàng Thị V1: Nữ A và Vụ trực tiếp bán số lô, số đề cho khách, sau đó tổng hợp lại và chuyển bảng cáp lô, đề cho T để được hưởng hoa hồng. Ngoài ra, T trực tiếp bán số lô, đề cho người khác. Sau đó, T tổng hợp các số lô, đề lại. Phần lớn số lô, số đề bán được, T chuyển cho H8; một phần chuyển cho Vân A1 để hưởng hoa hồng; cắt lại một phần chuyển cho Đông Thị T11 nhưng T không nói cho T11 biết T tổ chức đánh bạc cho nhiều người, cũng không nói cho T11 biết nguồn gốc số lô, đề đó do đâu mà có. Từ ngày 03/3/2023 đến 8/3/2023, Nguyễn Thị K1 có hành vi bán số lô, số đề 5 lần; trong đó có 2 lần số tiền bán số lô, số đề từ 20.000.000 đồng trở lên; 3 lần trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng và thu lợi bất chính số tiền 637.200 đồng, cụ thể như sau:

  • Ngày 03/3/2023: Tuyến nhận bảng cáp lô đề do Nữ A chuyển đến là 120.086.000 đồng. Tuyến bán cho khách vãng lai 750 điểm lô tương đương với số tiền 16.500.000 đồng. So với kết quả xổ số miền Bắc cùng ngày, T không trúng số nào. Tổng số tiền Tuyến tổ chức đánh bạc ngày 03/3/2023 là 136.586.000 đồng. Sau đó, T đã chuyển cho H8 4.412 điểm lô tương đương với số tiền 95.740.400 đồng và 200.000 đồng tiền đề; chuyển cho Đông Thị T11 1.850 điểm lô tương đương với số tiền 40.145.000 đồng nhưng không nói cho T11 biết nguồn gốc số lô đề do đâu mà có, cũng không nói cho T11 biết T tổ chức đánh bạc cho nhiều người. T đã trả H8 số tiền 95.883.800 đồng và trả T11 số tiền 40.145.000 đồng bằng tiền mặt. Như vậy ngày 03/3/2023, T đã thu lợi bất chính số tiền 502.200 đồng.
  • Ngày 04/3/2023: Tuyến bán số lô, đề cho khách vãng lai tương đương số tiền 5.500.000 đồng. Tuyến chuyển toàn bộ số lô trên cho T11 nhưng không nói nguồn gốc số lô trên do đâu mà có, cũng không nói cho T11 biết T tổ chức đánh bạc cho nhiều người. So sánh với kết quả xổ số miền Bắc ngày 04/03/2023, khách trúng 50 điểm lô tương ứng với số tiền 4.000.000 đồng. Tổng số tiền Tuyến tổ chức đánh bạc ngày 04/3/2023 là 9.500.000 đồng. Tuyến đã thanh toán tiền thắng thua ngày 04/4/2023 cho khách và T11. T thu lợi bất chính số tiền 75.000 đồng.
  • Ngày 05/3/2023: Tuyến bán cho Phạm Thị N2 200 điểm lô tương đương với số tiền 4.400.000 đồng. Sau đó, T đã chuyển các số lô trên cho H8. So sánh với kết quả xổ số miền bắc cùng ngày, N2 trúng 30 điểm lô tương đương với số tiền 2.400.000 đồng. Tổng số tiền Tuyến tổ chức đánh bạc ngày 05/3/2023 là 6.800.000 đồng. Tuyến đã trả H8 6.740.000 đồng. Tuyến thu lợi bất chính 60.000 đồng.
  • Ngày 07/3/2023: Tuyến bán số lô, đề cho Phạm Thị N2 và Nguyễn Thị Mai H5 được số tiền 5.800.000 đồng. So sánh với kết quả xổ số miền bắc cùng ngày H5 trúng 42,5 điểm lô tương đương với số tiền 3.400.000 đồng. Tổng số tiền Tuyến tổ chức đánh bạc ngày 07/3/2023 là 9.200.000 đồng. Tuyến đã chuyển toàn bộ số lô, số đề này cho H8. Tuyến chưa thanh toán tiền thắng cho H5.
  • Ngày 08/3/2023: Tuyến nhận bảng cáp lô đề Nữ Anh chuyển đến với tổng số tiền là 26.112.250 đồng. Nhận bảng cáp lô đề do Hoàng Thị V1 chuyển đến với tổng số tiền là 2.625.000 đồng. Ngoài ra, tuyến trực tiếp bán số lô, đề cho Khuất Xuân H4 với số tiền 38.990.000 đồng; cho Nguyễn Thị Mai H5 số tiền 4.040.000 đồng; cho Cao Minh N3 số tiền 1.510.000 đồng. Do T bị triệu tập trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét tiền thắng thua. Tổng số tiền Tuyến tổ chức đánh bạc ngày 08/3/2023 là 73.277.250 đồng. Sau đó, T đã chuyển cho Vân A1 số lô, đề tương ứng số tiền 42.660.000 đồng.

Đối với bị cáo Phạm Nữ A:

Phạm Nữ A bán số lô, số đề cho khách, đến cuối ngày, Nữ A tập hợp bảng cáp rồi chuyển cho T qua tin nhắn điện thoại hoặc máy fax để hưởng tiền hoa hồng trong 02 ngày:

  • Ngày 03/3/2023: Tổng số tiền Phạm Nữ A2 số lô, số đề là 121.264.000 đồng. Phạm Nữ A đã chuyển toàn bộ số lô, số đề trên cho Nguyễn Thị Kim T và thu lợi bất chính số tiền 1.393.000 đồng.
  • Ngày 08/03/2023: Phạm Nữ A bán số lô, số đề được tổng số tiền là 26.863.500 đồng. Nữ A đã chuyển toàn bộ số lô, số đề trên cho Nguyễn Thị Kim T. Phạm Nữ A thu lợi bất chính 17.470.800 đồng.

Tổng số tiền thu lợi bất chính của Phạm Nữ A là 18.863.800 đồng.

Đối với các bị cáo Nguyễn Kim T1, Trần Thúy N và Trần Thị Minh H:

  • Ngày 08/3/2023, Nguyễn Kim T1 mua của Đoàn Thị Mai K tổng số tiền lô, đề là 450.900.000 đồng. Do K bị triệu tập trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét tiền thắng thua.
  • Ngày 09/3/2023: Nguyễn Kim T1 mua số lô, đề của Trần Thúy N với tổng số tiền là 442.000.000 đồng và mua của Trần Thị Minh H tổng số tiền lô đề là 744.000.000 đồng. Do T1, N, Minh H đầu thú trước khi có kết quả xổ số miền bắc cùng ngày nên không xem xét thắng thua.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo Nguyễn Kim T1 đánh bạc ngày 8/3/2023 là 450.900.000 đồng và ngày 09/3/2023 là 1.186.000.000 đồng.

Tổng số tiền Trần Thúy N đánh bạc ngày 09/3/2023 là 442.000.000 đồng.

Tổng số tiền Trần Thị Minh H đánh bạc ngày 09/3/2023 là 744.000.000 đồng.

Vì vậy, Tòa cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Phạm Nữ A về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322; các bị cáo Nguyễn Kim T1, Trần Thị Minh H, Trần Thúy N về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cho rằng các bị cáo Trần Thị Minh h và Trần Thúy N phải bị xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” là không có căn cứ chấp nhận.

Các bị cáo phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” với số tiền lớn, phạm tội nhiều lần, nên án sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù và khi quyết định mức hình phạt đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với mỗi bị cáo và xử phạt các bị cáo với mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp; tại phiên tòa phúc thẩm một số bị cáo có bổ sung thêm tài liệu về việc gia đình có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS nhưng không làm thay đổi được mức hình phạt đối với các bị cáo, nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên án sơ thẩm về hình phạt.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Phạm Nữ A, Nguyễn Kim T1, Trần Thị Minh H và Trần Thúy N không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo Phạm Đức V và Đoàn Thị Mai K đã rút đơn kháng cáo và được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 342, Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Phạm Đức VĐoàn Thị Mai K. Quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đối với các bị cáo Phạm Đức V2 và Đoàn Thị Mai K có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Phạm Nữ A, Nguyễn Kim T1, Trần Thị Minh H, Trần Thúy N; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội về hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:

  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị Kim T: 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2023 đến ngày 25/4/2023.
  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phạm Nữ A: 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2023 đến ngày 28/4/2023.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Kim T1: 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 17/4/2023.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Thị Minh H: 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 28/4/2023.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Thúy N: 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 28/4/2023.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  • Bị cáo Phạm Đức V và Đoàn Thị Mai K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Phạm Nữ A, Nguyễn Kim T1, Trần Thị Minh H, Trần Thúy N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Công an, VKSND,
  • TAND, Chi cục THADS
  • quận Tây Hồ;
  • - Trại tạm giam;
  • - Người kháng cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN XUÂN VĂN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 474/2024/HS-PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 474/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim T và đồng phạm phạm tội Tổ chức đánh bạc, Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger