|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 474/2024/HS-ST Ngày 09-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trang Văn Hai
- Ông Trần Công Danh.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Trần Xuân Thìn – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 480/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 475/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Ngọc S (tên gọi khác: không), sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi thường trú: Số A, Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: Số A H, Khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Lê Thị B; bị cáo chưa có vợ, con. .
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 08/9/2023, bị tạm giữ ngày 08/9/2023 sau đó chuyển tạm giam theo Lệnh số 1515/LTG-CSĐT ngày 18/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Nguyễn Ngọc S là người sử dụng trái phép chất ma túy (hàng đá). Để có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài, S đã nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, cụ thể: Vào tháng 6/2023, S quen biết đối tượng Đinh Văn L1 (Không rõ lai lịch, địa chỉ) và được L1 rủ S đem ma túy đi bán giúp L1. L1 thỏa thuận sẽ trả tiền công cho S từ 50.000đồng (năm mươi nghìn đồng) đến 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng)/lần bán ma túy, S đồng ý.
Cách thức mua bán như sau: Khi có người mua ma túy sẽ liên lạc trực tiếp với L1 để thỏa thuận giá và địa điểm giao dịch, sau đó L1 đưa ma túy cho S mang đến bán cho người mua, tiền mua ma túy người mua có thể chuyển khoản cho L1 hoặc đưa tiền mặt cho S cầm về cho L1. Nếu người mua ma túy liên hệ với S thì S điện thoại thông báo cho L1 biết số tiền mua và số lượng ma túy cần mua, sau đó S đến gặp L1 lấy ma túy mang đi bán cho người mua rồi cầm tiền về cho L1, hoặc người mua chuyển khoản cho L1.
S đã phụ giúp L1 thực hiện các lần bán ma túy cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24/8/2023, S đem 02 (hai) gói nhỏ ma túy tổng hợp (hàng đá) đến khu vực BigC thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho 01 (một) nam thanh niên (khoảng 25 tuổi, không rõ tên, địa chỉ), S được L1 trả công 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
Lần thứ hai: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/8/2023, S đem 02 (hai) gói nhỏ ma túy tổng hợp (hàng đá) đến khu vực C thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho 01 (một) nam thanh niên (khoảng 30 tuổi, không rõ tên, địa chỉ), S được L1 trả công 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
Lần thứ ba: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/8/2023, S đem 02 (hai) gói nhỏ ma túy tổng hợp (hàng đá) đến khu vực cầu vượt A, thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho một người đàn ông (khoảng 40 tuổi, không rõ tên, địa chỉ), S được L1 trả công 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
(Từ lần thứ nhất đến lần thứ ba, người mua chuyển tiền mua ma túy trực tiếp cho L1 qua tài khoản nên S không biết giá bán).
Lần thứ bốn: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/9/2024, tại nhà số A, Hoàng Bá B1, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nơi trọ của S), S đã bán 01 (một) gói nhỏ ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) cho một nam thanh niên tên L2 (không rõ lai lịch, địa chỉ).
Lần thứ năm: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/9/2023, tại khu vực chợ L3, thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, S đã bán 01 (một) gói nhỏ ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá giá 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) cho một nam thanh niên sử dụng nick zalo Tùy Duyên (không rõ lai lịch, địa chỉ).
Lần thứ sáu: Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 08/9/2023, tại khu vực bến xe Đ, thuộc phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, S đã bán 01 (một) gói nhỏ ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) cho một nam thanh niên sử dụng nick zalo Q (không rõ lai lịch, địa chỉ).
Các lần đã bán ma túy ngày 08/9/2023, S đã đưa tiền bán ma túy cho L1 và chưa được L1 trả tiền công.
Lần thứ bảy: Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 08/9/2023, tại đường N, đoạn thuộc khu phố D, phường Q, thành phố B, thành phố B, anh Lê Phú C (sinh năm 1993, ngụ E, tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B) điều khiển xe mô tô biển số 60H5-9597 chở S đang cầm trên tay phải chiếc khẩu trang màu đen bên trong cất giấu 03 (ba) gói nhỏ ma túy tổng hợp (hàng đá) đi sang phường H, thành phố B (Anh C không biết S cất giấu ma túy) để S bắt xe đi đến khu vực đường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh để bán cho người mua ma túy sử dụng số thuê bao điện thoại 0588.235.xxx (Không rõ lai lịch, địa chỉ), thì bị Tổ công tác 161 Công an thành phố B phối hợp Công an phường Q phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, từ tháng 6/2023 đến trước ngày 24/8/2023, S còn nhiều lần phụ giúp L1 bán ma túy cho người khác (S nhận ma túy từ L1 đem bán cho người khác) nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm bán ma túy. Quá rình mua bán ma túy, S đã được L1 trả công tổng số tiền 3.600.000đồng (ba riệu sáu trăm nghìn đồng) và S đã tiêu xài hết.
(Bút lục số: 01-02, 08-17, 55-70, 74-80, 92-95, 102-103)
Vật chứng vụ án:
- 03 (Ba) gói nylon bên trong chứa chất màu trắng (niêm phong gửi giám định).
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số imei 868476034837578, số thuê bao 0931285891 của Nguyễn Ngọc S sử dụng trong việc phạm tội.
(Bút lục số: 02, 08, 93).
Kết luận giám định số 2028/KL-KTHS ngày 14/9/2023, Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2403gam, loại Methamphetamine. (Bút lục số: 25)
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 477/CT-VKSBH-HS ngày 14/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Nguyễn Ngọc S về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
+ Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251 và điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ: 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.600.000đồng và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang, người làm chứng, kết luận trưng cầu giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 24/8/2023 đến ngày 08/9/2023, tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Ngọc S nhận ma túy từ đối tượng tên Đinh Văn L1 (Không rõ lai lịch, địa chỉ) rồi 06 lần bán trái phép 09 (chín) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) cho người tên L2, người sử dụng nick zalo Tùy D, người sử dụng nick zalo Quang A và 03 (ba) người khác (tất cả đều không rõ lai lịch, địa chỉ).
Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 08/9/2023, tại đường N, đoạn thuộc khu phố D, phường Q, thành phố B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, S đang đem 03 (ba) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) có khối lượng 0,2403gam, loại Methamphetamine (do L1 đưa) đi bán cho người không rõ lai lịch, địa chỉ, thì bị Tổ công tác 171 Công an thành phố B phối hợp Công an phường Q phát hiện bắt quả tang.
S đã thu lợi bất chính 3.600.000đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân và yếu tố tiềm ẩn phát sinh các loại tội phạm khác, làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 477/CT-VKSBH-HS ngày 14/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về vật chứng và các vấn đề khác có liên quan vụ án:
- Đối với số ma tuý còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 2028/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ; là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số imei 868476034837578là của Nguyễn Ngọc S sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với đối tượng tên Đinh Văn L1 (là người bị cáo khai đã cung cấp ma túy cho Nguyễn Ngọc S mang đi bán) và những đối tượng có hành vi mua ma túy của S hiện chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.
- Đối với phần trình bày của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2023.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma tuý sau giám định trong gói niêm phong số 2028/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số imei 868476034837578 (bị bể màn hình, đã qua sử dụng, không kiểm tra được tình trạng bên trong).
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B).
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc S nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.600.000đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc S phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
Bản án số 474/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 474/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
