|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 473/2023/HSST
Ngày: 16-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
- Ông Trần Đăng Vạn
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà:
Ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 416/2023/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 479/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Vũ L;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09/01/1991 tại tỉnh Trà Vinh; HKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Phạm Thế L1; Họ và tên mẹ: Huỳnh Thị Lan H; Bị cáo chưa có con; Tiền án: Ngày 24/9/2020, bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 164/2020/HS-ST ngày 24/9/2020. Ngày 14/5/2022, chấp hành xong án phạt tù; Bị cáo Phạm Vũ L bị tạm giam từ ngày 16/02/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Chị Tạ Thị Kim L2, sinh năm 1975 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Chị Đặng Thị Thanh N, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ C, ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Long An
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Mỹ Q, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- Ông Lê Văn C, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: F đường A, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có thu nhập nên Phạm Vũ L (Sinh năm 1991) nảy sinh ý định lên mạng xã hội tìm kiếm phụ nữ lớn tuổi độc thân hoặc đã ly hôn kết bạn làm quen để tìm cách chiếm đoạt tài sản. Khoảng tháng 11 năm 2022, L sử dụng Facebook của L có tên “Linh Pham”, chủ động kết bạn làm quen với chị Tạ Thị Kim L2 (sinh năm 1975) thông qua Facebook của chị L2 có tên “ Ut Yeu”. Đến ngày 15/02/2023, L hẹn gặp chị L2 tại A thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau đó, L đón xe buýt đi một mình từ Bến xe A đến và gặp được chị L2 tại quán cà phê lề đường trước AEON MALL B. L và chị L2 ngồi uống nước được khoảng 10 phút thì L rủ chị L2 đi chơi ở khu du lịch S, phường T, Thành phố T thì chị L2 đồng ý. Chị L2 mở khóa xe mô tô hiệu Honda Vision màu xám (chưa gắn biển số) bằng chìa khóa điều khiển từ xa (chị L2 vẫn giữ chìa khóa) rồi đưa xe mô tô cho L điều khiển chở chị L2 ngồi phía sau. Khi đến bãi giữ xe số 3 Khu D (Công ty Cổ phần D1), phường T, thành phố T thì L gặp anh Lê Văn C là nhân viên bảo vệ của khu Du lịch Suối Tiên. L hỏi xe mô tô không có biển số gửi xe được không thì anh C trả lời gửi được. L và chị L2 gửi xe mô tô hiệu Honda Vision màu xám (chưa gắn biển số) vào bãi giữ xe số 3 rồi chị L2 tắt máy xe mô tô bằng chìa khóa điều khiển từ xa (chị L2 vẫn giữ chìa khóa) còn L giữ thẻ giữ xe bằng thẻ từ số “13.366”. Sau đó, L và chị L2 đi dạo rồi cùng chơi nhiều trò chơi trong Khu D. Khi đến khu C, L mua vé ở đây để cho chị L2 thay đồ hóa trang chụp hình. Khi chị L2 đang mặc đồ hóa trang thì L nói với nhân viên Cung Vàng Điện N1 là L đi vệ sinh (toilet) nhưng thực tế thì L không đi vệ sinh (toilet) mà ra bãi giữ xe số 3 thuộc Khu D, phường T, thành phố T đến vị trí để xe mô tô hiệu Honda Vision màu xám (chưa gắn biển số) của chị L2 lấy trộm xe mô tô này, bằng cách đưa thẻ giữ xe bằng từ số “13.366” và trả tiền giữ xe 5.000 đồng cho anh Lê Văn C rồi dắt xe mô tô của chị L2 đi ra trước cổng giữ xe. Do vội vàng nên L làm rơi ví da, rớt tiền ra ngoài thì anh C nhắc nhở nên L quay lại lấy ví và tiền rồi tiếp tục dắt xe mô tô hiệu Honda Vision màu xám (chưa gắn biển số) của chị L2 tẩu thoát về hướng đường A, phường T, thành phố T.
Sau khi chị Tạ Thị Kim L2 vào Cung Vàng B thuộc Khu D, phường T, thành phố T thay đồ hóa trang xong thì không nhìn thấy Phạm Vũ L đâu nên gọi Messenger Facebook cho L nhưng không được. Chị L2 chạy ra vị trí cổng giữ xe số 3 hỏi anh Lê Văn C có thấy người thanh niên đi cùng với chị L2 đâu không thì anh C nói L đưa thẻ giữ xe, trả tiền và đẩy xe mô tô của chị L2 đi rồi. Chị L2 liền nhờ anh C cùng các nhân viên bảo vệ khác gồm anh: Trần Ngọc T (sinh năm 1970), anh Lê Hữu T1 (sinh năm 1989), anh Lê Văn H1 (sinh năm 1969) để tìm L còn chị L2 đến Công an phường T, thành phố T để trình báo sự việc.
Khi đang đi tìm L thì anh Trần Ngọc T phát hiện L cùng xe mô tô hiệu Honda Vision màu xám (chưa gắn biển số) của chị L2 đang ở tại trước địa chỉ H, đường A, khu phố B, phường T, thành phố T nên đã báo cho anh T1, anh H1 hỗ trợ đưa L cùng xe mô tô của chị L2 về Công an phường T, thành phố T lập hồ sơ xử lý.
Tại Công an phường T và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Phạm Vũ L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá tài sản số 16 ngày 20/02/2023 của Hội đồng định giá tài trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen xám, chưa có bảng số, số khung: RLHJK0352NY023200, số máy: JK03E-8123237 có giá trị 36.170.000 đồng.
Quá trình điều tra vụ án có thu giữ trong người của Phạm Vũ L nhiều giấy phép lái xe, căn cước công dân và thẻ ngân hàng của nhiều người. Trên cơ sở xác minh thông tin nhân thân lai lịch từ các giấy tờ trên và tiến hành mời làm việc và thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận xử lý. Trên cơ sở đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T đã xác định Phạm Vũ L còn thực hiện 04 vụ lấy tài sản của người khác, cụ thể như sau:
- * Vụ thứ 1: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 08/12/2022, tại quán K, địa chỉ xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Phạm Vũ L có hành vi lấy tài sản của chị Táo Thị Mỹ D (sinh năm 1993) gồm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Latte màu xám - bạc, biển số: 86B2-657.82; dưới cốp xe có 01 ví da màu hồng (không rõ nhãn hiệu, dài khoảng 20 cm, rộng khoảng 3 cm), bên trong ví da có khoảng 2.000.000 đồng và các loại giấy tờ khác bao gồm: 01 Căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe hạng A1; 01 thẻ Ngân hàng A1 đều mang tên chị D; 01 thẻ Ngân hàng A1 mang tên của ba ruột của chị D là Đa Văn M1.
- * Vụ thứ 2: Khoảng đầu tháng 12/2022, L kết bạn Z với Nguyễn Thị M. L biết M đã ly hôn chồng và đang làm thuê cho công ty may tại thị xã B, tỉnh Bình Dương. Ngày 22/01/2023, L hẹn gặp chị M tại thị xã B, tỉnh Bình Dương. Sau đó, L rủ M về quê M tại huyện C, tỉnh An Giang chơi. Ngày 24/01/2023, L điều khiển xe mô tô biển số 67C1-821.83 của chị M, chở chị M từ Bình Dương về huyện C, tỉnh An Giang. Khoảng 13 giờ cùng ngày, L chở M từ Khu D đến cúng tại Miếu B, thành phố C, tỉnh An Giang. Khi đến nơi, L gửi xe mô tô 67C1-821.83 vào một nhà trọ (không nhớ tên) gần Miếu B rồi cùng chị M đi bộ vào Miếu B. Lúc này, do đã có ý định chiếm đoạt tiền, điện thoại, nhẫn vàng của chị M để trong ba lô của M đang đeo. L lấy lý do Miếu B đông người, dễ bị trộm cắp, L kêu M đưa ba lô của M cho L giữ. M tin lời nên đưa ba lô của M (bên trong có 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo V21; 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 04 phân; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67C-821.83; thẻ Căn cước công dân và 01 thẻ ATM Ngân hàng B1 cùng mang tên Nguyễn Thị M) cho L đeo trên lưng. Sau khi cúng bà, L rủ M vào quán nước “Trí Sang” bên hông Miếu B, thuộc tổ B, khóm V, phường N, thành phố C rồi lấy lý do quay lại Miếu B2 cho mẹ, L nói với chị M ở lại quán nước đợi L, rồi đeo ba lô của M rời khỏi quá, đến chỗ gửi xe mô tô biển số 67C1-821.83 lấy xe mô tô trốn thoát về Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường về Thành phố Hồ Chí Minh, L đã bán nhẫn vàng và cầm 02 điện thoại di động (L không nhớ tên và địa chỉ) được 3.000.000 đồng. Đồng thời L bán xe mô tô của chị M cho 01 người đàn ông tại Thành phố Hồ Chí Minh được 28.000.000 đồng cùng với 3.000.000 đồng tiền mặt có trong ba lô của chị M, L sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 23/02/2023, chị M biết L bị Công an thành phố T bắt nên đã nến Công an phường N, thành phố C, tỉnh An Giang trình báo sự việc.
- * Vụ thứ 3: Khoảng cuối tháng 12/2022, thông qua mạng xã hội Facebook, bị can Phạm Vũ L3 làm quen, nhắn tin làm quen với chị Đặng Thị Thanh N. Khoảng trưa ngày 06/01/2023, L3 rủ chị N đi chùa thì chị N đồng ý. L3 đi xe ôm công nghệ đến nơi làm việc của chị N ở Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp chị N. Tại đây, chị N đưa xe mô tô Honda Vision, biển số 62M1-596.60 cho L3 điều khiển chở chị N vào chùa (không rõ địa chỉ). Sau khi đi chùa xong, L3 tiếp tục rủ chị N đến Siêu thị A2, địa chỉ số A Đường A, Khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đi qua Cổng kiểm soát xe vào (cổng số 6) của siêu thị, L3 lấy thẻ xe rồi chạy vào khu vực siêu thị, ngừng xe lại trước cổng F, L3 giả vờ bảo chị N xuống xe để L3 đi gửi xe. Khi chị N xuống xe L3 điều khiển xe đi ra cổng kiểm soát xe ra (Cổng số 9) của siêu thị, đưa thẻ xe cho nhân viên kiểm soát và điều khiển xe ra khỏi cổng chạy thoát. Sau đó, L3 mở cốp xe để kiểm ra thì phát hiện trong cốp xe có 01 bóp nữ màu hồng, trong bóp có số tiền 200.000 đồng, 02 căn cước công dân tên Đặng Thị Thanh N, 01 điện thoại di động Samsung A20 màu đen. L3 ném bỏ bóp nữ màu hồng (không rõ nơi ném), mang xe Honda Vision, biển số 62M1-596.60 bán cho 01 thanh niên không rõ lai lịch được 8.000.000 đồng, bán điện thoại di động hiệu Samsung A20 màu đen được 800.000 đồng (không xác định được nơi bán) và tiêu xài cá nhân hết, còn lại 02 Căn cước công dân tên Đặng Thị Thanh N, L3 giữ trong người.
- * Vụ thứ 4: Thông qua mạng xã hội, Phạm Vũ L3 nhắn tin làm quen với chị Trần Thị Mỹ Q (Sinh năm 1995). Ngày 10/02/2023, L3 hẹn Q gặp nhau ở phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Sau đó, L3 cùng chị Q đến cửa hàng cho thuê xe máy có địa chỉ số H N, Khu phố A, phường M, thành phố P để liên hệ thuê xe máy hiệu Honda AirBlade biển số 86B7 - 3846 làm phương tiện đi lại. L3 là người đứng ra làm thủ tục thuê xe nhưng do L3 là người ngoài địa phương nên L3 nhờ Q đưa giấy tờ tùy thân để làm thủ tục thuê xe còn L3 là người trả tiền thuê xe (200.000 đồng/ngày) và được Q đồng ý. Sau khi thuê được xe máy thì L3 chở Q đến khu D, thị trấn T, huyện H để du lịch. Q cùng L3 đi cáp treo lên chùa núi T chơi, tại đây L3 nói Q ngồi chờ để L3 đi vệ sinh. Quyên chờ khoảng 30 phút nhưng không thấy L3 trở lại nên gọi điện thoại cho L3 thì không liên lạc được, quay trở lại vị trí gửi xe máy thì không thấy L3 và xe máy nên biết L3 đã lấy xe đi. Lúc này trong cốp xe máy, Q có để 01 túi xách màu vàng bên trong có 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Thị Mỹ Q và 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 48T8-1163 mang tên Nguyễn Tấn H2.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công anh huyện T, tỉnh Bình Thuận để tiến hành điều tra làm rõ. Ngày 17/03/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Thuận ra quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Vũ L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Ngày 07/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã có Công văn số 3804 về việc phối hợp điều tra đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Thuận phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T nhập vụ án theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021. Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Thuận đã kết luận điều tra và không đồng ý nhập vụ án.
Kết luận định giá tài sản số 260 ngày 08/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, tỉnh An Giang, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu sơn xanh bạc đen biển số 67C1-821.83, số máy KF41E0101785; số khung RLHKF4107LZ100237, có giá trị là 30.000.000 đồng; 01 nhẫn vàng 18K có đính hột đá, trọng lượng 04 phân có giá trị là 1.582.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V21, màu xanh có giá trị 4.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 112 ngày 06/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B, kết luận: 01 xe mô tô Honda Vision biển số 62M1-596.60 có giá trị 18.000.000 đồng; 01 điện thoại di động A20 đã qua sử dụng có giá trị 1.200.000 đồng; 01 ví nữ màu hồng đã qua sử dụng, có giá trị là 60.000 đồng.
Ngày 14/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T có Công văn số 2525 về việc “Thông báo về tội phạm để điều tra theo thẩm quyền” (theo đường Bưu điện theo mã Bưu gửi số EY71821876) kèm 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Thị Mỹ Q và 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 49T8-1163 mang tên Nguyễn Tấn H2 là giấy đăng ký xe mô tô của chị Q mua cũ lại đang sử dụng.
Ngày 27/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục có Công văn số 3801 về việc “Thông báo về tội phạm để điều tra theo thẩm quyền – lần 2” gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 26/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận có Công văn số 247 phúc đáp trả lời xác định đã tiếp nhận vụ, việc và cung cấp bản sao biên bản ghi lời khai của chị Trần Thị Mỹ Q, có nội dung: Chị Q là người đã bồi thường cho cửa hàng cho thuê xe mô tô. Chị Q không yêu cầu xử lý hình sự L3 và không yêu cầu nhận lại tài sản bị mất là 01 túi xách màu vàng do giá trị thấp.
Cáo trạng số 367/CT-VKSTPTĐ ngày 05/9/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Vũ L3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Vũ L3 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hai tội từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu của các bị hại.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Vũ L3 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án có đủ cơ sở kết luận:
- - Ngày 15/02/2023 tại Khu D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Vũ L3 đã lợi dụng sự sở của chị Tạ Thị Kim L2 trong việc quản lý tài sản nên đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu xám (chưa gắn biển số) có giá trị 36.170.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Vũ L3 đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- - Ngày 06/01/2023 tại Siêu thị A2, địa chỉ 01 Đường A, Khu phố A, phường B, quận B bằng thủ đoạn gian dối làm cho chị N tin là sự thật nên tự nguyện giao xe mô tô Honda Vision, biển số 62M1-596.60 và trong cốp xe 01 điện thoại di động hiệu Samsung A20, 01 ví nữ màu hồng và 200.000 đồng, tổng giá trị là 19.460.000 đồng cho bị cáo Phạm Vũ L3 sau đó L3 đã chiếm đoạt và với thủ đoạn tương tự ngày 24/01/2023, tại quán nước “Trí Sang” bên hông Miếu B, thuộc tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, bằng thủ đoạn gian dối làm cho chị M tin là sự thật nên tự nguyện giao tài sản và bị cáo Phạm Vũ L3 đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị M (3.000.000 đồng; 01 nhẫn vàng 18 k trọng lượng 04 phân; 01 xe mô tô Honda AriBlade, biển số 67C1-821.83; 01 điện thoại di động hiệu Vivo V21, màu xanh, có tổng giá trị là 38.582.000 đồng. Tổng giá trị Phạm Vũ L3 chiếm đoạt tài sản trong 02 vụ lừa đảo là 58.042.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Vũ L3 đã yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Phạm Vũ L3 về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo Phạm Vũ L3 biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái vi phạm pháp luật, có thể bị phạt tù nhưng vì lười lao động nhưng lại muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã bất chấp, cố ý thực hiện. Hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản do bị cáo L3 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và gây mất an ninh trật tự. Trong một thời gian ngắn bị cáo L3 đã 04 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác thể hiện tính xem thường pháp luật, bị cáo L3 có 01 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L3 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên cũng xét trong quá trình điều tra truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về xử lý vật chứng:
01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Realme màu xanh dương thu giữ của Phạm Vũ L3. Xét bị cáo sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Tạ Thị Kim L2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bị cáo Phạm Vũ L3 bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Tại cơ quan điều tra chị Đặng Thị Thanh N yêu cầu bị cáo Phạm Vũ L3 bồi thường số tiền 36.000.000 đồng, trong quá trình xét xử chị N rút lại một phần yêu cầu chỉ yêu cầu bồi thường số tiền 19.460.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo Phạm Vũ L3 đồng ý bồi thường số tiền 19.460.000 đồng cho chị Đặng Thị Thanh N nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Chị Nguyễn Thị M yêu cầu bị cáo Phạm Vũ L3 bồi thường số tiền 38.500.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo Phạm Vũ L3 đồng ý bồi thường số tiền 38.500.000 đồng cho chị Nguyễn Thị M nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 173 và Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Phạm Vũ L3 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Vũ L3 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 04 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tổng hợp hình phạt đã tuyên, buộc bị cáo Phạm Vũ L3 chấp hành hình phạt tù chung cho cả hai tội là 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
01 (một) điện thoại di động bên ngoài có chữ Realme màu xanh dương.
(Theo phiếu nhập kho số NK23/341C ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Phạm Vũ L3 bổi thường cho chị Đặng Thị Thanh N số tiền 19.460.000 (mười chín triệu, bốn trăm sáu mươi ngàn đồng) và bồi thường cho chị Nguyễn Thị M số tiền là 38.500.000 (ba mươi tám triệu, năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phạm Vũ L3 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.898.000 (hai triệu, tám trăm chín mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 473/2023/HSST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tội trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 473/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản
