|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 473/2024/DS-PT
Ngày: 16/5/2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương
Các thẩm phán:
| 2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền | 1. Bà Vũ Thị Thu Hương |
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Bạch Ngọc Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 16/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 267/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2023/DS-ST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1569/2024/QĐPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5178/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (Ngân hàng B);
Địa chỉ trụ sở: T, số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ chi nhánh: Số C N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Giang S hoặc bà Trần Thu H
(Theo giấy ủy quyền số 396/UQ-BIDV.BNE ngày 12/6/2023)
2. Bị đơn:
2.1 Ông Phan Viết H1, sinh năm 1981;
2.2 Bà Châu Thị Thúy H2, sinh năm 1985;
Cùng địa chỉ: Số B V, Khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Đình P hoặc ông Nguyễn Trung T1;
Địa chỉ liên lạc: Số G H, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 004148, ngày 10/7/2023)
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Phan Viết N, sinh năm 1952;
- - Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1959;
- - Trẻ Phan Viết Bảo A, sinh năm 2009;
- - Trẻ Phan Quỳnh A1, sinh năm 2015;
- - Trẻ Phan Viết Anh Q, sinh năm 2018;
- - Trẻ Phan Viết Hoàng L, sinh năm 2012;
Đại diện hợp pháp của các trẻ Bảo A, Quỳnh A1, Anh Q và Hoàng L: Ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2;
Cùng địa chỉ: Số B V, Khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2.
(Phiên tòa có mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Giang S và đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Đình P)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ do ông Lê Giang S, bà Trần Thu H là người đại diện theo ủy quyền cùng thống nhất trình bày:
Bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 có vay tiền tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh B1 (gọi tắt Ngân hàng B) theo các Hợp đồng tín dụng như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017, số tiền cho vay là 2.400.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm triệu đồng), thời hạn cho vay là 240 tháng, gốc và lãi trả hàng tháng, ngày vay 15/03/2017, ngày đến hạn 15/03/2037, mục đích vay: hoàn vốn mua căn nhà tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số 71 địa chỉ số B V, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hợp đồng tín dụng số 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020, số tiền cho vay là 2.500.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng), thời hạn cho vay là 240 tháng, kể từ ngày giải ngân lần đầu, ngày vay 20/7/2020, ngày đến hạn 20/7/2040, mục đích vay: thanh toán và/hoặc hoàn vốn mua mảnh đất tại thửa đất số 1841, tờ bản đồ số 8, địa chỉ khu phố B, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
Tính đến ngày 08/6/2023: Ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 chỉ mới trả cho Ngân hàng B số tiền nợ gốc là 740.000.000 đồng (bảy trăm bốn mươi triệu đồng) và còn nợ Ngân hàng B số tiền nợ gốc là 1.660.000.000 đồng và nợ lãi là 25.022.794 đồng nên ngày 25/5/2023 Ngân hàng B đã chuyển sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày Ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 chỉ mới trả cho Ngân hàng B số tiền nợ gốc là 322.400.000 đồng (ba trăm hai mươi hai triệu bốn trăm ngàn đồng) và còn nợ gốc là 2.177.600.000 đồng và nợ lãi là 102.787.256 đồng, nên ngày 25/4/2023 Ngân hàng B đã chuyển sang nợ quá hạn.
Để đảm bảo cho các khoản vay này, ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 đã ký với Ngân hàng B Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2017/4759459/HĐBĐ ngày 09/3/2017 được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai quận T (nay là Thành phố T) có nội dung: Thế chấp cho Ngân hàng B: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số 71, địa chỉ số B V, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CD 452594, số vào số cấp giấy chứng nhận CS 01689 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016.
Do vi phạm thời hạn trả nợ lãi và gốc theo quy định trong các hợp đồng tín dụng, nên toàn bộ số dư nợ của các Hợp đồng tín dụng chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng B đã nhiều lần gửi Thông báo trả nợ và T3 mời cho ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 để mời ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 lên Ngân hàng B để giải quyết khoản vay trên nhưng ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 đã không hợp tác và không thiện chí trong việc trả nợ vay cho Ngân hàng B. Vì vậy, Ngân hàng B yêu cầu Tòa án buộc ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 có trách nhiệm trả toàn bộ nợ theo các Hợp đồng tín dụng số: 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 và Hợp đồng tín dụng số 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020 cho Ngân hàng B tạm tính đến hết ngày 08/6/2023 là 3.965.410.050 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 3.837.600.000 đồng, nợ lãi là 127.810.050 đồng. Trường hợp ông Phan Viết H1 và Châu Thị Thúy H2 không thực hiện trả nợ, đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số 71, địa chỉ số B V, phường L, thành phố T (trước đây là quận T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CD 452594, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01689 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2017/4759459/HĐBĐ ngày 09/3/2017 được công chứng tại Văn phòng công chứng Hoàng Xuân Ngụ - Thành phố C ngày 04/11/2021 và Đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng Đăng ký Đất đai quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/3/2017.
Đối với tiền lãi vẫn tiếp tục tính theo các hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng B.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 do ông Nguyễn Trung T1 hoặc ông Nguyễn Thanh P1 đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 xác nhận có vay tiền tại Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh B1 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 (số tiền đã được giải ngân là 2.400.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm triệu đồng)) và Hợp đồng tín dụng số 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020 (số tiền đã được giải ngân là 2.500.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng)).
Để đảm bảo cho khoản vay này, ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 đã thế chấp cho Ngân hàng B Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số 71, địa chỉ số B V, phường L, Thành phố T (trước đây là quận T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CD452594, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01689 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016. Hợp đồng tín dụng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn đã trả được cho Ngân hàng B những khoản tiền nợ gốc như sau: Đối với Hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017: 740.000.000 đồng (bảy trăm bốn mươi triệu đồng). Từ ngày 25/5/2023 đến nay do bị khó khăn nên ông H1 và bà H2 chưa thanh toán tiếp tục cho Ngân hàng B nên bị Ngân hàng B chuyển khoản nợ sáng nợ quá hạn. Đối với Hợp đồng tín dụng số 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020: 364.000.000 đồng (ba trăm sáu mươi bốn triệu đồng). Từ ngày 25/4/2023 đến nay do bị khó khăn nên ông H1 và bà H2 chưa thanh toán tiếp tục cho Ngân hàng B nên Ngân hàng B đã chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 08/6/2023, ông H1 và bà H2 còn nợ Ngân hàng B tổng số tiền là 3.965.410.050 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 3.837.600.000 đồng và nợ lãi là 127.810.050 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 và Hợp đồng tín dụng số 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020.
Do gặp khó khăn nên nên ông H1 và bà H2 đề nghị Ngân hàng B cho ông H1 và bà H2 trả phần tiền lãi và tiền lãi quá hạn còn nợ từ tháng 4/2023 thanh toán dứt điểm vào tháng 11/2023. Số tiền gốc phải thanh toán theo thỏa thuận thì ông H1 và bà H2 xin không trả phần tiền gốc này. Sau khi thanh toán được số tiền nợ lãi và lãi quá hạn đến tháng 11/2023 thì ông H1 và bà H2 đề nghị Ngân hàng B cho ông H1 và bà H2 cơ cấu lại khoản nợ vay.
Tại phiên toà sơ thẩm, do tình hình kinh tế khó khăn nên bị đơn đề nghị được cơ cấu lại khoản vay do đó không đồng ý việc nguyên đơn yêu cầu trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi một lần.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Viết N và bà Vũ Thị T2 tại đơn xin vắng mặt có trình bày:
Ông N và bà T2 không đồng ý việc phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số 71, địa chỉ số B V, phường L, thành phố T (trước đây là quận T), Thành phố H và xin phép vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan các trẻ Phan Viết Bảo A, Phan Quỳnh A1, Phan Viết Anh Q, Phan Viết Hoàng L có đại diện theo pháp luật là ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 vắng mặt nên không có lời khai trình bày.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2023/DS-ST ngày 12/12/2023 của
Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ: Buộc bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 cùng liên đới có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền: 4.134.345.743 đồng (Bằng chữ: bốn tỷ một trăm ba mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi lăm ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng) bao gồm:
Đối với Hợp đồng tín dụng 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 là 1.762.626.583 đồng (một tỷ bảy trăm sáu mươi hai triệu sáu trăm hai mươi sáu đồng năm trăm tám mươi ba đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là 1.640.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 121.926.513 đồng, nợ lãi quá hạn là 700.067 đồng.
Đối với Hợp đồng tín dụng 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020 là 2.371.719.160 đồng (hai tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm mười chín ngàn một trăm sáu mươi đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là 2.136.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 234.742.531 đồng, nợ lãi quá hạn là 976.629 đồng.
Kể từ ngày 13/12/2023 ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 còn tiếp tục chịu lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 và hợp đồng tín dụng 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Sau khi ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 trả hết số nợ nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì Ngân hàng có trách nhiệm làm thủ tục xóa thế chấp đối với tài sản đảm bảo là quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số: 516, TBĐ: 71, Địa chỉ: số B V, Phường L, quận T (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có trách nhiệm hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số số phát hành CD 452594, số vào số cấp GCN: CS 01689 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016 và Thông báo nộp lệ phí trước bạ ngày 04/03/2017 (Theo Biên bản giao nhận giấy tờ tài sản thế chấp số 01/2017/4759459/BBGN ngày 09/3/2017).
Trường hợp ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ về cho Ngân hàng là: Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số 71, địa chỉ 2 V, phường L, thành phố T (trước đây là quận T) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CD 452594, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01689 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016 (được ghi nhận tại Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 01/2017/4759459/HĐBĐ ngày 09/3/2017 giữa ông Phan Viết H1 – bà Châu Thị Thúy H2 với Ngân hàng B đã được công chứng tại Văn phòng C theo số 007229, quyền số 03-TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai quận T ngày 15/3/2017.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án
* Ngày 26/12/2023, bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 có đơn kháng cáo yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn chưa đủ điều kiện cơ cấu lại khoản vay theo qui định của Ngân hàng.
- Đại diện bị đơn trình bày: Bị đơn thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về số tiền vốn gốc và lãi còn thiếu theo hai hợp đồng tín dụng trên. Tuy nhiên, bị đơn luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn với số tiền nợ gốc kèm theo số tiền lãi hàng tháng, lãi phạt đã đóng cho nguyên đơn trong suốt 06 năm. Sau này, do ảnh hưởng từ dịch COVID-19 vào năm 2021, tình hình kinh tế khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, nguồn thu nhập không ổn định dẫn đến việc bị đơn thực hiện nghĩa vụ hàng tháng không đầy đủ (tức là vẫn đóng một phần số tiền) cho nguyên đơn. Cụ thể, tại thời điểm nguyên đơn tiến hành khởi kiện, số tiền lãi tạm tính đến ngày 08/6/2023 là 127.810.050 đồng (một trăm hai bảy triệu tám trăm mười nghìn không trăm năm mươi đồng). Vì vậy, nguyên đơn căn cứ vào việc bị đơn đóng tiền chậm 2-3 tháng để tiến hành khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ khoản vay, trường hợp bị đơn không trả tiền thì phát mãi tài sản là không tạo điều kiện hỗ trợ cho khách hàng trong việc thanh toán khoản nợ. Do đó, bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét không chấp nhận đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đồng thời đề nghị phía nguyên đơn xem xét lại, tạo điều kiện cho phía bị đơn được cơ cấu lại khoản vay để có điều kiện kinh tế tốt nhất tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho phía nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn- ông Ngô Viết H3 và bà Châu Thị Thúy H2 giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vào ngày 12/12/2023 đến ngày 26/12/2023 bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 nộp đơn kháng cáo. Bị đơn đã nộp đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên đơn kháng cáo của bị đơn được chấp nhận.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án là phù hợp với khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do có kháng cáo của bị đơn nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm
[2.] Về nội dung kháng cáo: Bị đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[2.1] Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ vào lời khai nhận của bị đơn và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ lãi và gốc theo qui định của hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 và hợp đồng tín dụng số 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020 nên Ngân hàng khởi kiện để thu hồi nợ trước hạn là phù hợp thỏa thuận tại Điều 8, Điều 9 của Điều khoản và điều kiện vay (đính kèm hợp đồng hợp đồng tín dụng) và Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2] Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc và nợ lãi đối với hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 và hợp đồng tín dụng số 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020.
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng, điều khoản và điều kiện vay (đính kèm hợp đồng tín dụng), bản sao kê, bản tính lãi của ngân hàng, chứng cứ có trong hồ sơ và đại diện bị đơn thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về số tiền nợ gốc, nợ lãi còn thiếu theo hai hợp đồng tín dụng trên nên Tòa án Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn của hai hợp đồng tín dụng trên là có cơ sở. Cụ thể:
- * Đối với Hợp đồng tín dụng 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017:
- - Nợ gốc: 1.640.000.000 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 121.926.513 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 700.067 đồng.
- Tổng cộng : 1.762.626.583 đồng (một tỷ bảy trăm sáu mươi hai triệu sáu trăm hai mươi sáu đồng năm trăm tám mươi ba đồng).
- * Đối với Hợp đồng tín dụng 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020:
- - Nợ gốc: 2.136.000.000 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 234.742.531 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 976.629 đồng.
- Tổng cộng : 2.371.719.160 đồng (hai tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm mười chín ngàn một trăm sáu mươi đồng).
Kể từ ngày 13/12/2023 ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 còn tiếp tục chịu lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 và hợp đồng tín dụng 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
[2.3] Đối với yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ :
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn trong trường hợp ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện việc phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số 71, địa chỉ 2 V, phường L, Thành phố T (trước đây là quận T) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CD 452594, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01689 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016 (được ghi nhận tại Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 01/2017/4759459/HĐBĐ ngày 09/3/2017 giữa ông Phan Viết H1 – bà Châu Thị Thúy H2 với Ngân hàng B đã được công chứng tại Văn phòng C theo số 007229, quyền số 03-TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/3/2017 để thu hồi nợ là phù hợp với qui định tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 4 của Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2017/4759459/HĐBĐ ngày 09/03/2017.
Sau khi bị đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng phải có trách nhiệm làm thủ tục xóa thế chấp đối với tài sản đảm bảo. Đồng thời, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có trách nhiệm hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số số phát hành CD 452594, số vào sổ cấp GCN: CS 01689 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016 và Thông báo nộp lệ phí trước bạ ngày 04/03/2017 (Theo Biên bản giao nhận giấy tờ tài sản thế chấp số 01/2017/4759459/BBGN ngày 09/3/2017).
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[2.4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[2.5] Về án phí và các chi phí tố tụng.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng tự nguyện chịu và đã thu, chi xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo qui định tại Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
H4 lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo quy định tại Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã tạm nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 105/2023/DS-ST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Đ.
1.1 Buộc bị đơn ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 cùng liên đới có trách nhiệm trả cho Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền: 4.134.345.743 đồng (Bằng chữ: bốn tỷ một trăm ba mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi lăm ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng) bao gồm:
- * Đối với Hợp đồng tín dụng 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017:
- - Nợ gốc: 1.640.000.000 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 121.926.513 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 700.067 đồng.
- Tổng cộng : 1.762.626.583 đồng (một tỷ bảy trăm sáu mươi hai triệu sáu trăm hai mươi sáu đồng năm trăm tám mươi ba đồng).
- * Đối với Hợp đồng tín dụng 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020:
- - Nợ gốc: 2.136.000.000 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 234.742.531 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 976.629 đồng.
- Tổng cộng: 2.371.719.160 đồng (hai tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm mười chín ngàn một trăm sáu mươi đồng).
Trả toàn bộ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 13/12/2023 ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 còn tiếp tục chịu lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 01/2017/4759459/HĐTD ngày 09/3/2017 và hợp đồng tín dụng 01/2020/4759459/HĐTD ngày 20/7/2020 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Sau khi ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 trả hết số nợ nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì Ngân hàng có trách nhiệm làm thủ tục xóa thế chấp đối với tài sản đảm bảo là quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số: 516, TBĐ: 71, Địa chỉ: 2 V, Phường L, quận T (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Ngân hàng TMCP B có trách nhiệm hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số số phát hành CD 452594, số vào sổ cấp GCN: CS 01689 do Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016 và Thông báo nộp lệ phí trước bạ ngày 04/03/2017 (Theo Biên bản giao nhận giấy tờ tài sản thế chấp số 01/2017/4759459/BBGN ngày 09/3/2017).
Trường hợp ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ về cho Ngân hàng là: Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số 71, địa chỉ 2 V, phường L, Thành phố T (trước đây là quận T) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CD 452594, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01689 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/8/2016 (được ghi nhận tại Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 01/2017/4759459/HĐBĐ ngày 09/3/2017 giữa ông Phan Viết H1 – bà Châu Thị Thúy H2 với Ngân hàng B đã được công chứng tại Văn phòng C theo số 007229, quyền số 03-TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/3/2017).
1.2 Về án phí sơ thẩm:
Ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 cùng liên đới phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 112.134.346 đồng (Một trăm mười hai triệu một trăm ba mươi bốn ngàn ba trăm bốn mươi sáu đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền án phí đã tạm nộp là 55.654.101 đồng (năm mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi bốn ngàn một trăm lẻ một đồng) theo biên lai thu số AA/2022/0000569 ngày 13/6/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3.
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) Ngân hàng TMCP B tự nguyện chịu (đã thu và chi xong).
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Phan Viết H1 và bà Châu Thị Thúy H2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0002394 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
3. Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 473/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 473/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
