TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 473/2025/DS-ST Ngày: 20/6/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công Chiếm.
- Bà Nguyễn Thị Mây.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khôi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 718/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 481/2025/QĐST-DS ngày 21/4/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 50/2025/QĐTNPT-DS ngày 21/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á.
Trụ sở: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh H – Chức vụ: Giám đốc Phòng Quản lý nợ.
Đại diện tham gia tố tụng: Ông Đào Văn Q, sinh năm: 1965.
Địa chỉ liên lạc: Lầu H, Tòa nhà A, 444A – 446 Cách mạng T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc D, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: 5, Tổ E, Khu phố G, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á (A) trình bày:
A cấp tín dụng cho ông Huỳnh Quốc D căn cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông D; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A; Các văn bản khác của ông Huỳnh Quốc D với A về việc sử dụng thẻ tín dụng. Chi tiết như sau: Số thẻ tín dụng 4365 99 ** ****9446, ngày cấp 21/10/2020, Loại thẻ: Visa Signature, hạn mức thẻ: 100.000.000 đồng, Hiệu lực thẻ: Tháng 10/2023; Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng. Trong quá trình sử dung thẻ tín dụng, ông Huỳnh Quốc D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A. Do đó, căn cứ vào thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn thì: Ngày 18/11/2022 A đã chuyển khoản nợ thẻ sang nợ quá hạn, đồng thời quyết định chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của ông Huỳnh Quốc D. Ngày 14/4/2024, A ra thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với thẻ tín dụng nêu trên.
Dư nợ tính đến ngày 20/6/2025 là:
Nợ gốc: 113.020.894 đồng;
Tiền lãi quá hạn: 108.193.865 đồng.
Tổng cộng nợ gốc và lãi quá hạn là: 221.214.759 đồng.
Đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Quốc D phải thanh toán số nợ nêu trên cho A ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.
Và ông Huỳnh Quốc D có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Kiến nghị vi phạm thời hạn xét xử.
Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về số tiền mà bị đơn còn nợ của nguyên đơn xuất phát từ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Đây là quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Căn cứ theo Văn bản trả lời xác minh của Công an phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bị đơn hiện không còn cư trú tại địa chỉ 551/110/6 L, Khu phố E, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo hồ sơ cấp thẻ tín dụng cho ông Huỳnh Quốc D do Ngân hàng cung cấp thể hiện ông D cư trú tại địa chỉ trên. Như vậy, việc bị đơn bỏ đi khỏi địa phương, thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho nguời khởi kiện biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a Khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:
Giữa ông Huỳnh Quốc D có ký với Ngân hàng TMCP Á Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng – Các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng. Ông D đã được A đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 4365 99 ** ****9446 với hạn mức sử dụng là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Căn cứ vào bảng Tóm tắt sao kê ngày 20/6/2025 của A thì ông D nợ A như sau: Tổng dư nợ: 113.020.894 đồng; Dư nợ không tính ngày quá hạn là 17.830.983 đồng; Dư nợ tính lãi ngày quá hạn: 95.189.911.
Nên dư nợ tính đến ngày 20/6/2025 là:
Nợ gốc: 113.020.894 đồng;
Tiền lãi quá hạn: 108.193.865 đồng.
Tổng cộng nợ gốc và lãi quá hạn là: 221.214.759 đồng.
Trong quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tới làm việc để tham gia hòa giải cũng như xét xử vụ án nhưng đều vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc nêu trên, do đó Tòa án không thể thu thập được chứng cứ từ phía bị đơn. Như vậy thể hiện việc bị đơn đương nhiên chấp nhận việc khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, văn bản, kết luận, của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Qua các lần nhắc nợ bằng văn bản ông D đã không đến A để thanh toán là vi phạm nghĩa vụ thanh toán Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng mà ông D và Ngân hàng đã thỏa thuận. Nay, Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông D phải thanh toán hết số nợ gốc và lãi quá hạn tạm tính đến ngày 20/6/2025 là 221.214.759 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất áp dụng và yêu cầu tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 21/6/2025 cho đến khi trả dứt số nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng không ghi ngày tháng năm: xét thấy, tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thì thỏa thuận lãi và mức lãi suất giữa Ngân hàng TMCP Á và ông Huỳnh Quốc D là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp theo khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: do đó yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí:
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về dân sự.
Nguyên đơn được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi nộp đơn khởi kiện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Huỳnh Quốc D phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi quá hạn tạm tính tới ngày 20/6/2025 là 221.214.759 (hai trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm mười bốn nghìn, bảy trăm năm mươi chín) đồng trong đó: Nợ gốc: 113.020.894 đồng và lãi quá hạn: 108.193.865 đồng.
Trả ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.
Việc giao nhận tiền do các đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/6/2025) cho đến khi thi hành án xong, ông Huỳnh Quốc D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà ông Huỳnh Quốc D phải thanh toán cho nguyên đơn cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.
- Về án phí:
Buộc ông Huỳnh Quốc D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.060.738 (mười một triệu, không trăm sáu mươi nghìn, bảy trăm ba mươi tám) đồng. Nộp ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 4.248.239 (bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, hai trăm ba mươi chín) đồng khi nộp đơn khởi kiện theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0016953 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Hương |
Bản án số 473/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 473/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
