Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hồng Việt

    Bà Lê Thị Kim Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa:

Bà Mai Thị Năm, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 473/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1988; nơi thường trú: Thôn F, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Nông; Tạm trú: 132B Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1986; nơi thường trú: Thôn F, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Nông; Tạm trú: 132B Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Phạm Thị L trình bày:

Bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T quen biết và tự tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Bà L và ông T được UBND xã C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38, quyển số 01/2008 cấp ngày 04/7/2008.

Sau khi kết hôn, cuộc sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không còn phù hợp, bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống không còn hạnh phúc. Cách nay khoảng một năm, bà L và ông T sống ly thân, không còn ở chung, không còn tình cảm, không ai còn quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm không còn, xung đột và mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể đoàn tụ tiếp tục chung sống với nhau được nữa bà Phạm Thị L yêu cầu được ly hôn ông Trần Văn T.

Về con chung: Bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T sinh được 02 người con tên Trần Ngọc Hà V, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Ngọc Hùng V1, sinh ngày 07/4/2013. Tại đơn khởi kiện bà Phạm Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung; bà L không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Tại Biên bản hòa giải ngày 16/9/2024, bà Phạm Thị L đồng ý giao con chung là Trần Ngọc H Vỹ cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; bà Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Ngọc Hà V, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng bị đơn là ông Trần Văn T trình bày:

Thống nhất theo lời trình bày của bà Phạm Thị L về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung. Ông Trần Văn T và bà Phạm Thị L hiện không còn sống chung với nhau, không còn tình cảm gì với nhau nhưng ông Trần Văn T không đồng ý lý hôn với bà Phạm Thị L.

- Về con chung: Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông Trần Văn T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trần Ngọc Hùng V1; Ông Trần Văn T đồng ý giao con chung là Trần Ngọc Hà V cho bà Phạm Thị L nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An có ý kiến:

Về tố tụng: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không bị hạn chế các quyền khi tham gia tố tụng, nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng mâu thuẫn giữa bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T là trầm trọng thể hiện ở việc tính tình không còn phù hợp, bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống không còn hạnh phúc, hai người không còn sống chung với nhau, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng giữa bà L và ông T là rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T sinh được 02 người con chung tên Trần Ngọc Hà V, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Ngọc Hùng V1, sinh ngày 07/4/2013. Tại đơn khởi kiện bà Phạm Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Trần Ngọc Hà V, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Ngọc Hùng V1, sinh ngày 07/4/2013; không yêu cầu ông Trần Văn T phải cấp dưỡng nuôi con. Tại Biên bản hòa giải ngày 16/9/2024, bà Phạm Thị L đồng ý giao con chung là Trần Ngọc Hùng V1, sinh ngày 07/4/2013 cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Ngọc Hùng V1, sinh ngày 07/4/2013; bà Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Ngọc Hà V, sinh ngày 12/11/2009, không ai phải cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung bà Phạm Thị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, việc vắng mặt của ông T và bà L không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông Trần Văn T và bà Phạm Thị L.

Bà Phạm Thị L khởi kiện ly hôn, tranh chấp về con chung với ông Trần Văn T, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Trần Văn T là bị đơn hiện đang tạm trú tại phường H, thành phố T nên Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T tự tìm hiểu, quen biết nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình, được UBND xã C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38, quyển số 01/2008 cấp ngày 04/7/2008 đây là hôn nhân hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo trình bày của bà Phạm Thị L thì ông T và bà L mâu thuẫn đã nhiều năm nay, ông T có tính gia trưởng thường xuyên chửi mắng, đánh đập bà L. Ông T đi làm nhưng không đưa tiền cho bà L nuôi con, chăm lo cuộc sống gia đình; một mình bà L phải vừa làm ăn buôn bán, vừa nuôi con.

Theo trình bày của ông Trần Văn T thì ông T và bà L mâu thuẫn nhiều năm nay nhưng theo ông T thì chưa có gì quá gay gắt, nguyên nhân chủ yếu là ông T đi làm thuê, bà L mở cửa hàng bán thực phẩm, rau củ. Ông Trần Văn T nghi ngờ bà Phạm Thị L có người khác nên phát sinh mâu thuẫn, thỉnh thoảng cãi, chửi nhau, có lúc ông T không kìm chế được có đánh bà L và đập đồ đạc trong nhà.

Lời trình bày của ông T và bà L về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với biên bản xác minh tại UBND phường H, thành phố T. Như vậy, trình bày của bà L về mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, thường cãi chửi nhau, vợ chồng ly thân không còn ở chung với nhau là có căn cứ.

[4] Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T nhằm tạo lên một gia đình hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau nuôi dạy con và phát triển kinh tế gia đình không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm, bà Phạm Thị L yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[5] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T sinh được 02 người con chung tên Trần Ngọc Hà V, sinh ngày 12/11/2009 và Trần Ngọc Hùng V1, sinh ngày 07/4/2013. Quá trình làm việc, ông Trần Văn T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Ngọc Hùng V1; bà Phạm Thị L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Ngọc Hà V, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T là phù hợp với nguyện vọng của cháu Hà V và cháu H Vỹ nên chấp nhận yêu cầu của ông T và bà L.

Bà Phạm Thị L và ông Trần Văn T không yêu cầu ai phải cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở; tuy nhiên không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở, ảnh hưởng đến cuộc sống và học tập của con và người trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Bà Phạm Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 68, 69, 70, 71, 72; 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Trần Văn T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L được ly hôn ông Trần Văn T.
    • - Về con chung: Giao cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Ngọc Hùng V1, sinh ngày 07/4/2013; Giao cho bà Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Ngọc Hà V, sinh ngày 12/11/2009, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  2. Về án phí:
  3. Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002524 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Trọng Q

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 473/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 473/2024/TLST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con Lụa - Thông
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger