|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG Bản án số: 473/2020/HNGĐ-ST Ngày: 09/12/2020 V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Việt Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Phu;
- Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 565/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2020 Quyết định hoãn phiên tòa số: 578/2020/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1996, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1996, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
(Ông D có mặt, bà H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu kèm theo ông Huỳnh Văn D trình bày: Hôn nhân giữa ông và bà H do cha mẹ định đoạt, có tổ chức lễ cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P ngày 02/10/2017. Sau khi kết hôn ông bà về sống tại ấp P, xã P được 06 năm thì đến năm 2020 cả hai đi Bình Dương làm công nhân kiếm sống. Do ông D là con út nên khuyên bà H về sống cùng cha mẹ phụng dưỡng ông bà nhưng bà H không đồng ý. Từ đó hai bên phát sinh mâu thuẫn, ông về quê còn bà H đi ở lại Bình Dương ly thân từ tháng 5/2020 đến nay. Nhiều lần ông đến thăm còn và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà H không đồng ý, gia đình hai bên cũng khuyên ngăn nhưng không được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng, có quay về chung sống cũng không còn hạnh phúc nên ông yêu cầu ly hôn với bà H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kiều O, sinh ngày 11/6/2014 và Huỳnh Vũ L, sinh ngày 01/9/2017. Hiện hai con chung đang sống với bà H. Khi ly hôn, ông yêu cầu được nuôi cháu O và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con, đồng ý giao cháu L cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho bà Nguyễn Thị H theo quy định nhưng bà H không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của ông D – bà H để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú thì xác định Bà H hiện đi làm ăn xa nhưng hộ khẩu của bà vẫn còn ở ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại biên bản xác minh ngày 30/11/2020 bà Nguyễn Thị P – đồng thời là cán bộ phụ trách Mặt Trận ấp P và hàng xóm của vợ chồng ông D – bà H cho biết: Trong quá trình chung sống vợ chồng ông D – bà H nhiều lần cãi vả do điều kiện kinh tế khó khăn lại có con nhỏ, ông bà quyết định đi Bình Dương làm công nhân để tăng thu nhập cho cho các con. Tuy nhiên, ông D là con út nên muốn về quê chăm sóc cha mẹ già, bà H không đồng ý nên hai bên phát sinh mâu thuẫn, bà H cùng hai con nhỏ đi từ khoảng tháng 4 – 5/2020 đến nay không thấy về nhà ông D. Gia đình người lớn hai bên cũng không thấy qua lại, hàn gắn cho ông bà.
Tại phiên tòa, ông D đồng ý để bà H nuôi 02 con chung. Tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 1.500.00 đồng cho đến khi 02 con chung trưởng thành và sống tự lập. Riêng, bà H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H theo thủ tục chung.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Huỳnh Văn D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Đồng thời, bà H cư trú trên địa bàn huyện A. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.
[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa ông D, bà H là do cha mẹ mai mối trên sự tự nguyện của hai bên, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P ngày 02/10/2017 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Do đó, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của ông D xin ly hôn với bà H, Hội đồng xét xử xét thấy ông D và bà H đã không chung sống với nhau từ tháng 5/2020, bản thân ông D thừa nhận nhiều lần hàn gắn nhưng bà H không chấp nhận, nhận thấy không có khả năng quay về chung sống nên ông ly hôn. Nguyên nhân ông D trình bày là do ông muốn về quê chăm sóc cha mẹ già còn bà H không đồng ý nên tranh cãi, lời trình bày của ông phù hợp với nội dung xác minh bà Nguyễn Thị P cung cấp. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của ông D là có căn cứ, được chấp nhận.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống ông D trình bày có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kiều O, sinh ngày 11/6/2014 và Huỳnh Vũ L sinh ngày 01/9/2017, lời khai trên phù hợp với bản trích lục giấy khai sinh số 131 và số 210 ngày 26/8/2020 của Ủy ban nhân dân xã P. Hiện 02 con chung do bà H nuôi dạy. Tại phiên tòa, ông D đồng ý giao 02 con chung cho bà H tiếp tục nuôi. Xét thấy từ khi ly thân đến nay hai cháu O và L được bà H chăm sóc. Do đó, để đảm bảo điều kiện sống của con chung, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận để cho bà H tiếp tục nuôi dạy 02 con chung là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, ông D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 750.000 đồng/01 con cho đến khi 02 con chung trưởng thành và tự lập. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bà Huyền cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Dỡn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Ông D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Ông D là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Bà H không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn D.
1. Về hôn nhân: Ông Huỳnh Văn D được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 213 ngày 02/10/2017 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện A mang tên ông Huỳnh Văn D và bà Nguyễn Thị H không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị H được tiếp tục nuôi cháu Huỳnh Thị Kiều O, sinh ngày 11/6/2014 và cháu Huỳnh Vũ L sinh ngày 01/9/2017. Công nhận sự tự nguyện của ông D tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng/tháng/01 con cho đến khi cháu O, cháu L trưởng thành và sống tự lập. Thời gian bắt đầu thực hiện là khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí: Ông Huỳnh Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004775 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, ông Dỡn nộp thêm 300.000 đồng. Bà H không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/12/2020), ông D được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà H được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Việt Quốc |
Bản án số 473/2020/HNGĐ-ST ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
- Số bản án: 473/2020/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2020
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: D xin ly hôn với H
