Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4723/2023/HN-ST

Ngày: 21/12/2023

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường, vụ án thụ lý số 2221/2023/TLST-HNGĐ, ngày 5 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7448/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7786/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Uyên T, sinh năm 1975

Địa chỉ: Số A đường T, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lê Khắc T1, sinh năm 1982

Địa chỉ: Số C, Đường số B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà T xin vắng mặt, ông T1 vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Bùi Thị Uyên T trình bày: Sau một thời gian tìm hiểu nhau, bà và ông Lê Khắc T1 đã tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 KH, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12 tháng 2 năm 2007. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không dung hòa được. Hiện nay, vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Nay, bà T nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm, chăm sóc nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Cuộc sống hôn nhân trên thực tế không thể tiếp tục và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T và ông Lê Khắc T1 có 02 con chung là Lê Anh Q, sinh ngày 3/4/2007 và Lê Thiên K, sinh ngày 13/10/2015. Bà Bùi Thị Uyên T yêu cầu Tòa án giao 02 con chung Lê Anh QLê Thiên K cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung:T không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Khắc T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án có bản khai trình bày:

Ông và bà Bùi Thị Uyên T kết hôn trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 KH, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/02/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng tháng 10 năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Nay, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T ly hôn với ông T1, ông T1 đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T và ông Lê Khắc T1 có 02 con chung là Lê Anh Q, sinh ngày 3/4/2007 và Lê Thiên K, sinh ngày 13/10/2015. Ông T1 có nguyện vọng nuôi trực tiếp nuôi con chung là Lê Thiên K, sinh ngày 13/10/2015 và giao cho bà T2 nuôi con chung là Lê Anh Q, sinh ngày 3/4/2007 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Ngày 26/10/2023, ông T1 có bản tự khai bổ sung xác nhận lại không tranh chấp nuôi con, ông hợp tác với bà T trong việc nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Bùi Thị Uyên T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Khắc T1 nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Bà Bùi Thị Uyên T là nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt bà T.

Ông Lê Khắc T1 là bị đơn đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông T1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyết định xét xử vắng mặt ông T1.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn như sau:

Bùi Thị Uyên T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 KH, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12 tháng 2 năm 2007. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà T và ông T1 được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Tại phiên tòa hôm nay bà T có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng tại bản tự khai và các biên bản hòa giải, bà T xác định cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho cả hai, mục đích hôn nhân vì vậy cũng không đạt được, bà T và ông T1 có nhiều khác biệt trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Do đó, bà T giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn.

Ông T1 vắng mặt nhưng có lời khai tại Tòa xác nhận giữa ông và bà T2 có nhiều mâu thuẫn. Nay bà T làm đơn xin ly hôn, ông T1 đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không thể chia sẻ cùng nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Tại các bản khai, bà T và ông T1 cũng xác nhận hôn nhân không hạnh phúc và cả hai đều đồng ý ly hôn. Tòa án đã thực hiện việc xác minh về tình trạng nơi ở bà T và ông T1 chung sống, theo kết quả trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T cho biết: Ủy ban nhân dân phường A chưa nhận được đơn yêu cầu giải quyết của 2 bên đương sự nên không có cơ sở để trả lời những nội dung xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Từ những nhận định trên cho thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của bà T và ông T1 đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Uyên T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung:T và ông T1 trình bày có 02 con chung là Lê Anh Q, sinh ngày 3/4/2007 và Lê Thiên K, sinh ngày 13/10/2015.

Bùi Thị Uyên T có nguyện vọng trực tiếp nuôi hai 02 con chung Lê Anh QLê Thiên K và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông T1 có nguyện vọng nuôi trực tiếp nuôi con chung là Lê Thiên K, sinh ngày 13/10/2015 và giao cho bà T2 nuôi con chung là Lê Anh Q, sinh ngày 3/4/2007.

Trong quá trình Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập và Thông báo Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải yêu cầu bà T và ông T1 có mặt tại Tòa để hòa giải và lắng nghe nguyện vọng của các bên về việc nuôi con chung. Tuy nhiên ông T1 vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lấy ý kiến của hai trẻ Lê Anh QLê Thiên K và đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Để đảm bảo điều kiện phát triển về thể chất, tinh thần cũng như không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của trẻ, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung Lê Anh Q, sinh ngày 3/4/2007 và Lê Thiên K, sinh ngày 13/10/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện việc bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung:T không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông T1 không có yêu cầu phản tố về giải quyết chia tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà T chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông T1 không phải chịu án phí.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 và các Điều 51, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Bùi Thị Uyên T;
    1. Về quan hệ hôn nhân:Bùi Thị Uyên T được ly hôn ông Lê Khắc T1.

      (Giấy chứng nhận kết hôn số 10 KH, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12 tháng 02 năm 2007 không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)

    2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Anh Q, sinh ngày 3/4/2007 và Lê Thiên K, sinh ngày 13/10/2015 cho bà Bùi Thị Uyên T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

      Ông T1 được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

      Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

      Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

      Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

      Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về tài sản chung và nợ chung:Bùi Thị Uyên T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí:Bùi Thị Uyên T phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0005332 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà T đã nộp đủ án phí. Ông T1 không phải chịu án phí.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.

Nơi nhận:

- VKSND Thành phố Thủ Đức;

- THA DS Thành phố Thủ Đức;

- TANDTPHCM;

- Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 4

T.P.Hồ Chí Minh;

- Các đương sự;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4723/2023/HN-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 4723/2023/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger