TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 472/2023/DS-PT Ngày 30-11-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ;
Bà Ngô Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 326/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 367/2023/QĐ-PT, ngày 16 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 504/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1967; địa chỉ: số G, tổ B, khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Hồng S, sinh năm 1996; địa chỉ: Buôn D, D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ liên lạc: số A, đường D, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/7/2022); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Cao Thu H, sinh năm 1978; địa chỉ: số G, tổ F, khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà Cao Thu H: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1989; địa chỉ: số D, tổ A, khu phố M, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 27/10/2022); có mặt.
2.2. Ông Trương Thanh L, sinh năm 1968; địa chỉ: số G, tổ F, khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Anh Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: số A đường N, tổ B, khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Cao Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 27/7/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Dương Hồng S trình bày:
Ngày 01/4/2017, vợ chồng ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H có vay của bà Nguyễn Thị Kim A số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận không ghi trong hợp đồng. Thời hạn vay là 20 tháng tính từ ngày 01/4/2017. Sau khi ký hợp đồng bà Kim A đã giao tiền cho ông L và bà H. Ngày 01/11/2018, ông L tiếp tục đề nghị bà Kim A cho vay thêm số tiền 200.000.000 đồng để có vốn xoay sở kinh doanh. Cùng ngày, bà Kim A tiếp tục cho ông L, bà H vay số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 20 tháng, tính từ ngày ký hợp đồng là ngày 01/11/2018, lãi suất thoả thuận. Cùng ngày, bà Kim A đã giao tiền cho bà H và ông L số tiền 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 01/11/2018 đến nay, ông L bà H chỉ thanh toán số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng. Do đó, đến ngày 04/7/2022 bà Kim A yêu cầu ông L viết Giấy biên nhận nợ với tổng số tiền gốc còn lại của hai giấy nợ vay năm 2017 và năm 2018 là 300.000.000 đồng. Giấy biên nhận nợ này chỉ có ông L ký tên, bà H trốn tránh không gặp mặt và không ký tên. Nay bà Kim A khởi kiện yêu cầu ông L và bà H trả cho bà Kim A tổng cộng số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng và trả tiền lãi theo quy định. Cụ thể:
- Lãi của hợp đồng vay ngày 01/4/2017:
- + Lãi trên nợ gốc tạm tính: (200.000.000 đồng x 10% : 12 tháng) x 20 tháng = 33.300.000 đồng;
- + Lãi trên nợ lãi tạm tính là: (33.300.000 đồng x 10% : 12 tháng) x 20 tháng = 5.550.000 đồng;
- + Lãi trên nợ gốc quá hạn tạm tính đến ngày khởi kiện là 50 tháng (tương đương 4,17%/năm) là: (200.000.000 đồng x 150% x 10%) x 4,17 = 125.100.000 đồng.
Tổng các khoản lãi của hợp đồng ngày 01/4/2017 tạm tính là 33.300.000 đồng + 5.550.000 đồng + 125.100.000 đồng = 163.950.000 đồng.
- Lãi của hợp đồng vay ngày 01/11/2018:
- + Lãi trên nợ gốc tạm tính: (100.000.000 đồng x 10% :12 tháng) x 20 tháng = 16.700.000 đồng;
- + Lãi trên nợ lãi tạm tính là: (16.700.000 đồng x 10% : 12 tháng) x 20 tháng = 2.780.000 đồng;
- + Lãi trên nợ gốc quá hạn tạm tính đến ngày khởi kiện là 24 tháng (tương đương 02 năm) là: (100.000.000 đồng x 150% x 10%) x 2 năm = 30.000.000 đồng.
Tổng các khoản lãi của hợp đồng vay ngày 01/11/2018 là 49.480.000 đồng.
Tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi nguyên đơn yêu cầu bà H và ông L phải thanh toán là 513.430.000 đồng (trong đó: nợ gốc 300.000.000 đồng và nợ lãi là 213.430.000 đồng).
2. Bị đơn bà Cao Thu H do ông Nguyễn Thành T đại diện trình bày:
Thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn về việc bà H và ông L trong thời kỳ hôn nhân có xác lập hai giao dịch vay tài sản với bà Nguyễn Thị Kim A theo Hợp đồng vay ngày 01/4/2017 và Hợp đồng vay ngày 01/11/2018. Tuy nhiên, thực tế số tiền vay trên ông L nhận và sử dụng riêng bà H không sử dụng. Hiện tại, bà H và ông L đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 229/2022/QÐST-HNGĐ ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Hiện nay, bà H không liên lạc được với ông L sau khi ly hôn. Về việc trả nợ, bà H xác định đã tất toán khoản vay ngày 01/11/2018 bao gồm số tiền vay gốc là 200.000.000 đồng và số tiền lãi 20 kỳ là 73.500.000 đồng theo lịch trả nợ do hai bên thoả thuận từ ngày 01/12/2018 đến ngày 01/7/2020. Ngoài ra, theo lịch trả nợ trên thì bà H còn trả tiền lãi của khoản vay năm 2017 là 7.000.000 đồng mỗi tháng, tổng cộng đã trả được 20 tháng là 140.000.000 đồng. Đồng thời, tháng 08 và tháng 9 năm 2020 bà H còn trả 02 tháng tiền lãi cho con bà Kim A là bà Võ Thị Anh Đ số tiền là 14.000.000 đồng. Như vậy, tổng cộng bà H đã trả lãi cho hai khoản vay là 227.500.000 đồng (trong đó: tiền lãi của khoản vay năm 2017 là 154.000.000 đồng và tiền lãi của khoản vay năm 2018 là 73.500.000 đồng). Nay bà Kim A khởi kiện yêu cầu bà H và ông L thanh toán số tiền gốc là 300.000.000 đồng của hai khoản vay và tiền nợ lãi là 213.430.000 đồng nêu trên thì bà H không đồng ý vì bà H đã thanh toán cho bà Kim A gốc và lãi như đã trình bày trên, bà H đề nghị cấn trừ tiền lãi vượt quá quy định vào tiền gốc và không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Kim A về việc thanh toán số tiền gốc là 300.000.000 đồng.
3. Bị đơn ông Trương Thanh L: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông L không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai và cũng không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Anh Đ: Có đơn từ chối tham gia các phiên toà và không trình bày gì thêm.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A đối với bị đơn ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H về việc yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng của khoản vay ngày 01/11/2018 và yêu cầu tính lãi quá hạn đối với số tiền vay gốc chưa trả của Hợp đồng vay ngày 01/4/2017 và ngày 01/11/2018.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A đối với bị đơn ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim A số tiền vay gốc của Hợp đồng vay ngày 01/4/2017 là 106.100.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 12/7/2023 bị đơn bà Cao Thu H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Cao Thu H do ông Nguyễn Thành T đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Ngày 03/11/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A do ông Dương Hồng S đại diện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi Bản trình bày ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A do ông Dương Hồng S đại diện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Anh Đ đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trương Thanh L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A khởi kiện yêu cầu ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H phải trả số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng và số tiền lãi là 213.430.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi nguyên đơn yêu cầu bà H và ông L phải thanh toán là 513.430.000 đồng. Bị đơn bà H thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn về việc bà H và ông L trong thời kỳ hôn nhân có xác lập hai giao dịch vay tiền với bà Nguyễn Thị Kim A theo Hợp đồng cho vay tiền ngày 01/4/2017 và Hợp đồng cho vay tiền ngày 01/11/2018. Tuy nhiên, thực tế số tiền vay trên ông L nhận và sử dụng riêng, bà H không sử dụng. Hiện tại, bà H và ông L đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 229/2022/QÐST-HNGĐ ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Sau khi ly hôn, bà H không liên lạc được với ông L nên nay bà H không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bà H đã thanh toán cho bà Kim A số tiền lãi vượt quá số tiền gốc là 300.000.000 đồng. Bị đơn ông L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1] Căn cứ để nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông L và bà H hoàn trả số tiền vay gốc 300.000.000 đồng là Hợp đồng cho vay tiền ngày 01/4/2017, Hợp đồng cho vay tiền ngày 01/11/2018 và Giấy biên nhận nợ ngày 04/7/2022.
[2.2] Quá trình hoà giải, bà H thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân bà H và ông L có ký Hợp đồng cho vay tiền ngày 01/11/2018 và Hợp đồng cho vay tiền ngày 01/4/2017 với bà Nguyễn Thị Kim A, tổng số tiền vay gốc của hai hợp đồng này là 400.000.000 đồng nên đây là những tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H cho rằng bà không sử dụng số tiền vay mà ông L mới là người trực tiếp sử dụng, bà H không ký xác nhận tại Giấy biên nhận nợ ngày 04/7/2022 mà nguyên đơn cung cấp, bà H xác định đã trả nợ gốc và lãi cho bà Kim A theo “Lịch trả nợ” do nguyên đơn yêu cầu, cụ thể mỗi tháng bà H thanh toán cho bà Kim A số tiền gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi giảm dần theo nợ gốc của khoản vay ngày 01/11/2018, bắt đầu trả từ ngày 01/12/2018 tổng cộng là 20 kỳ với mức lãi suất 3,5%/tháng, tương đương số tiền lãi đã trả là 73.500.000 đồng. Riêng đối với khoản vay ngày 01/4/2017, bà H thừa nhận chưa trả nợ gốc mà chỉ trả được 22 kỳ tiền lãi cố định hàng tháng số tiền là 7.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 154.000.000 đồng.
[2.3] Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2022 (bút lục số 75), nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A thừa nhận: “Sau khi ký hợp đồng, ông L và bà H có thanh toán tiền lãi hàng tháng cho bà Kim A mỗi tháng 7.000.000 đồng và tiền gốc hàng tháng là 10.000.000 đồng”. Đồng thời, ngày 15/11/2022, bà Kim A viết nội dung xác nhận chứng cứ do bị đơn cung cấp “Lịch trả nợ nhận ngày 01/11/2018” là bảng thanh toán tiền gốc và tiền lãi do bà H, ông L đã thanh toán cho bà Kim A và bà Đ là con gái bà Kim A ký nhận. Như vậy, theo “Lịch trả nợ” này thể hiện: bà H có thực hiện trả dần tiền gốc của khoản vay ngày 01/11/2018 mỗi tháng số tiền 10.000.000 đồng và trả lãi giảm dần theo từng thời điểm trả nợ gốc, tổng cộng là 20 kỳ trả đối với khoản vay năm 2018 và tiền lãi cố định hàng tháng của khoản vay năm 2017 là 7.000.000 đồng gồm 22 kỳ là 154.000.000 đồng (trong đó con gái bà Kim A là bà Đ ký nhận 02 kỳ).
[2.4] Quá trình giải quyết vụ án, đại diện của nguyên đơn là ông Dương Hồng S có ý kiến trình bày thay đổi lời khai so với nội dung lời khai của bà Kim A, không thừa nhận chứng cứ do bị đơn cung cấp là “Lịch trả nợ” và cho rằng chữ ký của nguyên đơn trong “Lịch trả nợ” là để xác nhận đúng số tiền sẽ trả nên nguyên đơn bà A đã ký vào “Lịch trả nợ” này. Thực tế, bị đơn chưa thực hiện việc trả nợ như cam kết mà mới chỉ trả được 100.000.000 đồng cho hợp đồng vay ngày 01/11/2018 theo các giấy thông báo nợ quá hạn và giấy biên nhận nợ đã ký. Xét thấy, nguyên đơn và người đại diện không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh, không có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà Kim A và bà Đ tại lịch thanh toán nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận lời trình bày này của đại diện nguyên đơn là phù hợp.
[2.5] Căn cứ vào “Lịch trả nợ” do bị đơn bà H cung cấp và lời thừa nhận của nguyên đơn bà Kim A tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2022 (bút lục số 75), có cơ sở xác định bà H đã thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng của khoản vay ngày 01/11/2018 cho nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục hoàn trả nợ gốc 300.000.000 đồng trong đó có 200.000.000 đồng của khoản vay ngày 01/4/2017 chưa trả là có cơ sở chấp nhận. Đối với yêu cầu thanh toán 100.000.000 đồng nợ gốc của khoản vay ngày 01/11/2018 là không có cơ sở nhưng tại phiên toà đại diện nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc của khoản vay năm 2018 và tiền lãi quá hạn đối với nợ gốc chưa trả nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.6] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Căn cứ sự thừa nhận của nguyên đơn bà Kim A, bị đơn bà H và “Lịch trả nợ” có cơ sở xác định mức lãi suất cho vay của hai khoản vay mà các bên đã thoả thuận 3,5%/tháng là vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 20%/năm tương đương 1,67%/tháng. Số tiền lãi sẽ được tính cụ thể như sau:
- Đối với khoản vay 200.000.000 đồng ngày 01/11/2018, thời hạn 20 tháng: Tiền lãi trong hạn: 200.000.000 đồng x 1,67% x 20 tháng = 66.800.000 đồng. Theo “Lịch trả nợ” bà H đã trả lãi giảm dần theo từng thời điểm trả nợ gốc và tổng số tiền 20 kỳ lãi đối với khoản vay ngày 01/11/2018 đã trả là 73.500.000 đồng nên số tiền lãi bà H đã trả vượt quá mức lãi suất quy định là: 73.500.000 đồng – 66.800.000 đồng = 6.700.000 đồng.
- Đối với khoản vay 200.000.000 đồng ngày 01/4/2017, thời hạn 20 tháng; bị đơn bà H xác định thanh toán tiền lãi cố định từ ngày 01/12/2018 đến ngày 01/7/2020 tổng cộng 20 kỳ (7.000.000 đồng x 20 kỳ) + 14.000.000 đồng của tháng 08 và tháng 9/2020 là 154.000.000 đồng. Theo đó, mức lãi suất trong hạn của khoản vay ngày 01/4/2017 theo quy định là: 200.000.000 đồng x 1,67% x 20 tháng = 66.800.000 đồng (từ ngày 01/4/2017 đến ngày 01/12/2019) nên số tiền lãi bà H đã trả vượt quá mức lãi suất quy định là 154.000.000 đồng – 66.800.000 đồng = 87.200.000 đồng.
Như vậy, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất quy định của pháp luật đã trả sẽ được trừ vào số tiền gốc của khoản vay ngày 01/4/2017 bị đơn chưa trả là: 200.000.000 đồng – (87.200.000 đồng + 6.700.000 đồng) = 106.100.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông L, bà H phải trả cho nguyên đơn bà Kim A số tiền nợ gốc đối với khoản vay ngày 01/4/2017 là 106.100.000 đồng là phù hợp.
Đồng thời, bị đơn còn phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa trả đối với khoản vay ngày 01/4/2017 tính từ ngày 01/01/2020 đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tại cấp sơ thẩm nguyên đơn tự nguyện rút phần yêu cầu tính lãi quá hạn đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
Đối với Giấy biên nhận nợ ngày 04/7/2022 nguyên đơn cho rằng đây là chứng cứ xác nhận nợ của ông L, bà H nhưng chỉ có ông L ký tên, bà H không ký tên và cũng không thừa nhận, quá trình tố tụng ông L vắng mặt và không có văn bản ý kiến gửi cho Toà án nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét Giấy biên nhận nợ ngày 04/7/2022. Đối với hai khoản vay ngày 01/4/2017 và ngày 01/11/2018, bà H thừa nhận và xác định đây là nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của ông L, bà H nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông L, bà H có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc của khoản vay ngày 01/4/2017 chưa trả là 106.100.000 đồng là có căn cứ.
[2.7] Đối với yêu cầu tính tiền lãi trên nợ lãi chưa trả của nguyên đơn là không phù hợp với quy định tại khoản Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông L, bà H có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc của khoản vay ngày 01/4/2017 chưa trả với số tiền 106.100.000 đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Do vậy, không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Cao Thu H.
[8] Về án phí sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông L, bà H phải chịu theo quy định pháp luật do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần là phù hợp. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên trong phần quyết định đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận và không tuyên buộc nguyên đơn phải chịu án phí đối với một phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là chưa phù hợp nên cần sửa một phần án sơ thẩm về cách tuyền và về án phí.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp một phần.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Cao Thu H.
- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương như sau:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A đối với bị đơn ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H về việc yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) của khoản vay ngày 01/11/2018 và yêu cầu tính tiền lãi quá hạn đối với số tiền vay gốc chưa trả của Hợp đồng vay ngày 01/4/2017 và Hợp đồng vay ngày 01/11/2018 với tổng số tiền lãi là 155.100.000 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A đối với bị đơn ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim A số tiền gốc của Hợp đồng vay ngày 01/4/2017 là 106.100.000 đồng (một trăm lẻ sáu triệu một trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A đối với bị đơn ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H về việc yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc là 93.900.000 đồng (chín mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng) và số tiền lãi là 58.330.000 đồng (năm mươi tám triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Trương Thanh L và bà Cao Thu H phải chịu số tiền 5.305.000 đồng (năm triệu ba trăm lẻ năm nghìn đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Kim A phải chịu số tiền 7.611.500 đồng (bảy triệu sáu trăm mười một nghìn năm trăm đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim A số tiền tạm ứng án phí còn lại là 2.138.500 đồng (hai triệu một trăm ba mươi tám nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2021-0000059 ngày 29/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Cao Thu H phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003344 ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 472/2023/DS-PT ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 472/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm
