|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 472/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-12-2024 (Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con chung giữa chị Trần Thị Thảo và anh Nguyễn Công Hà). |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Quang Chung.
Bà Vương Thị Minh Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham
gia phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 372/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1985; Số căn cước công dân
035185001820; Nơi đăng ký thường trú: số B đường T, phường V, thành phố N,
tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: số A đường K, phường C, thành phố N, tỉnh Nam
Định.
Bị đơn: Anh Nguyễn Công H, sinh năm 1980; Số căn cước công dân
036080008470; Nơi đăng ký thường trú: số B đường T, phường V, thành phố N,
tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: số A đường K, phường C, thành phố N, tỉnh Nam
Định.
Tại phiên tòa: chị T có mặt; anh H vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
[1.1] Tại đơn bản tự khai ngày 17-10-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Công H kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 5 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Hai bên đã ngồi nói chuyện, tìm hướng giải quyết khắc phục tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Công H1.
[1.2] Tại bản tự khai ngày 21-10-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn Nguyễn Công H trình bày: Thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Trần Thị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống nảy sinh nhiều bất đồng, con chung phát hiện chị T có quan hệ tình cảm với người thứ ba bên cạnh nhà. Bản thân anh cũng bỏ qua để vợ chồng nói chuyện tìm cách giải quyết nhưng gần đây sự việc lại tiếp diễn. Nay chị T có đơn xin đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, quan điểm của anh là muốn giữ gia đình cho các con nên anh không đồng ý ly hôn.
[2] Về con chung: Chị T và anh H xác nhận vợ chồng có hai con chung tên là Nguyễn Hải M, sinh ngày 04-04-2009 (giới tính: Nam) và Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 13-8-2020 (giới tính: Nữ).
Tại phiên hoà giải ngày 30-10-2024 chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H cùng thống nhất thoả thuận, chị T nuôi cháu Nguyễn Tuệ L, còn anh H nuôi cháu Nguyễn Hải M và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Tại phiên hoà giải ngày 06-11-2024 anh H thay đổi quan điểm đề nghị Toà án không giải quyết việc giao nuôi con chung vì anh không đồng ý ly hôn với chị T.
[3] Về tài sản chung và công nợ chung: chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
[4] Tại đơn đề nghị ngày 17-10-2024 của chị Trần Thị T có xác nhận của địa phương nơi anh chị đăng ký thường trú: Chị T và anh H đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 5 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, hai bên không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân. Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Hải M, sinh ngày 04-04-2009 (giới tính: Nam) và Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 13-8-2020 (giới tính: Nữ)
[5] Tại biên bản xác minh ngày 04-11-2024, địa phương nơi chị T, anh H đang sinh sống cung cấp: Chị Trần Thị T và anh Trần Công H1 đăng ký thường trú tại số B đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định, nhưng hiện nay đang thuê nhà và sinh sống tại số A đường K, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, còn về mâu thuẫn vợ chồng giữa hai bên địa phương không nắm được.
[6] Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung ngày 23-10-2024, cháu Nguyễn Hải M trình bày: Cháu là con mẹ Trần Thị T và bố Nguyễn Công H, nay bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng ở với bố là Nguyễn Công H.
[7] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định phát biểu quan điểm:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại điều 70, điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án:
-Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Trần Thị T và anh Trần Công H1 trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị T.
-Về con chung: Căn cứ vào các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung là Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 13-8-2020 (giới tính: Nữ) cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng . Giao con chung là Nguyễn Hải M, sinh ngày 04-04-2009 cho anh Nguyễn Công H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
-Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Công H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Công H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N ngày 16-5-2008 nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do hai bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Theo chị T trình bày vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống không có hạnh phúc, còn anh H cho rằng chị T có quan hệ tình cảm với người thứ ba làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Mặc dù anh chị cũng đã có thời gian cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải mâu thuẫn tạo điều kiện để chị T và anh H có cơ hội hàn gắn tình cảm, trở về chung sống đoàn tụ nhưng chị T vẫn giữ quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H.
[3] Về nuôi con chung: Chị T và anh H có hai con chung là Nguyễn Hải M, sinh ngày 04-04-2009 (giới tính: Nam) và Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 13-8-2020 (giới tính: Nữ).
Xét thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cả vợ và chồng, anh chị đều có công việc, có thu nhập ổn định đảm bảo được việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh H không thỏa thuận được với nhau về việc giao nuôi con chung nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét các quy định của pháp luật để giao con, căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của các cháu. Cháu Nguyễn Tuệ L còn nhỏ, cháu lại là con gái nên cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, cháu Nguyễn Hải M là con trai, cháu có nguyện vọng muốn được ở với bố vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Tuệ Lâm sinh ngày 13-8-2020; giao cho anh Nguyễn Công H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Hải M, sinh ngày 04-04-2009.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H xác định không có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Trần Thị T là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 13-8-2020 (giới tính: Nữ). Giao cho anh Nguyễn Công H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Hải M, sinh ngày 04-04-2009 (giới tính: Nam)
- Về án phí: Chị Trần Thị T nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị T đã nộp tại biên lai số 0002351 ngày 14-10-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Công H có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Công H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị T và anh H có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 472/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 472/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thảo- Nguyễn Công Hà ly hôn
