|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 472/2024/DS-PT
Ngày 03 - 12 - 2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Ninh Quang Thế
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 370/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2024/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 298/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
-
- Bị đơn: Ông Lê Thành V, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1982 (chồng bà N, có mặt).
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1973 (vợ ông V, có mặt).
- Chị Lê Thị M, sinh năm 1992 (con ông V, vắng mặt).
- Anh Lê Trường G, sinh năm 1996 (con ông V, vắng mặt).
- Ngân hàng N3.
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh C – Phó Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam huyện N3. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
6. Ủy ban nhân dân huyện T (vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: Khóm A, thị trấn T, huyện T, Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lê Thành V là bị đơn, bà Nguyễn Thị K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà Nguyễn Thị N có một phần đất có chiều ngang 09m, chiều dài 36m, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau, nguồn gốc của phần đất là của ông ngoại bà là ông Nguyễn Văn V1 cho lại mẹ bà là bà Nguyễn Thị N1, ông V1, bà N1 chết, bà N1 có một người con là bà N, phần đất này hiện đang nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Thành V, có diện tích theo đo đạc thực tế 293,4m². Sau khi bà N1 chết, bà N quản lý, sử dụng ổn định đất được cho từ trước cho đến nay. Khoảng năm 2021, ông V và bà Nguyễn Thị K trồng cây trên phần đất nằm liền kề phần nền khu mộ gia tộc bà, bà N yêu cầu di dời ra khỏi đất, vợ chồng ông V, bà K đã di dời cây nhưng còn lại một cây mai trước mộ, không nhổ do sợ động mồ mả. Sau đó, có hòa giải cơ sở tại ấp X, xã H. Địa phương vận động mỗi người ½ diện tích đất tranh chấp, bà N không thống nhất nên phát sinh tranh chấp đến nay.
Bà N xác định ông Nguyễn Văn V1 có sang nhượng đất cho cha của ông V là ông Lê Văn T (đã chết), sang phần đất có chiều ngang giáp sông B là 06 tầm, chiều dài không xác định được bao nhiêu, ông T cho lại ông Văn phần đất này vào năm 1987. Đối với tờ mua đất đề ngày 29/12/2001, bà N thừa nhận chiều ngang mặt tiền là 06 tầm, không có sang nhượng thêm 02m, vợ chồng ông V, bà K tự thêm vào 2m.
Tại phiên tòa, bà N yêu cầu ông V và bà K phải có nghĩa vụ trả lại cho bà phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 293,4m², tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau và điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K sang cho bà N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.
- Bị đơn, ông Lê Thành V trình bày:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ ông là ông Lê Văn T và bà Lý Thị Á nhận sang nhượng của ông Nguyễn Văn V1, phần đất mua có diện tích 1,8 công với giá trị 162 giạ lúa, mua vào năm 1997. Khi sang nhượng chỉ làm giấy tay. Đến ngày 29/12/2001, sang nhượng thêm phần đất phía sau thì mẹ của bà N là bà Nguyễn Thị N1 và bà Nguyễn Thị K đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N1 đồng ý cho ông V làm giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trùm qua khu mộ. Ông V thừa nhận có làm giấy chứng nhận trùm qua phần đất của bà N là khu mộ, ông V thống nhất trả lại phần đất của khu mộ có diện tích theo đo đạc thực tế 215,1m². Ông V xác định phần đất từ mốc M5M6M9M12 có diện tích theo đo đạc thực tế là 78,3m² là của ông V, hiện ông đang quản lý, ông không chấp nhận trả lại phần đất này cho bà N. Tờ mua đất đề xác nhận ngày 29/12/2001 có bôi xóa là do vợ chồng ông sau này có sang thêm của ông V1 02 mét nên viết thêm vào chữ “2 mét” và sửa ngày lập cho phù hợp với xác nhận.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Thành V hiện Ngân hàng N3 – Chi nhánh T2 đang giữ để vay tiền nhưng không xác định được thời gian vay cũng như số tiền vay là bao nhiêu, khi vay ngân hàng giữ giấy chứ ông không có ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn Đ trình bày:
Ông Đ thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà N, ông Đ không có ý kiến khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K trình bày:
Bà K thống nhất với ý kiến của chồng là ông Lê Thành V, bà K không có ý kiến khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N3 trình bày:
Vào ngày 12/01/2024, ông Lê Thành V và bà Nguyễn Thị K vay tiền của Ngân hàng N3 theo hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-202400129, số tiền 200.000.000 đồng, phương thức cho vay theo hạn mức, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay nuôi tôm, nuôi cá, trồng lúa, chăn nuôi, lãi suất cho vay 11.2%/năm. Cho vay không có tài sản bảo đảm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 9 Nghị định 55/20215/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ và khoản 3 Điều 1 Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 55. Ông Lê Thành V nộp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất số Y 852046 có diện tích 13.799m² do ông Lê Thành V và bà Nguyễn Thị K đứng tên. Tính đến ngày 29/7/2024, số tiền nợ vay vốn 200.000.000 đồng, lãi 12.135.891, tổng vốn và lãi 212.135.891 đồng.
Ngày 29/7/2024, Ngân hàng N3 có đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập đối với ông Lê Thành V về việc yêu cầu ông V thanh toán số tiền vay vốn và lãi là 212.135.891 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2024/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng N3 đối với ông Lê Thành V về việc thanh toán tiền vay vốn 200.000.000 đồng, lãi 12.135.891, tổng vốn và lãi 212.135.891 đồng.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Lê Thành V về việc trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 293,4m², tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Buộc ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị N phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 293,4m², tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau, có vị trí tứ cận kèm theo.
Bà Nguyễn Thị N có quyền liên hệ với Cơ quan chuyên môn làm thủ tục điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 852046, số vào sổ 1255 được Chủ tịch UBND huyện T cấp ngày 25/11/2003, do hộ gia đình ông Lê Thành V và bà Nguyễn Thị K đứng tên quyền sử dụng.
Buộc ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ khai thác cây trồng và tài sản gắn liền với phần đất tranh chấp nêu trên.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/7/2024, ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
- - Bị đơn, ông Lê Thành V tranh luận: Ông đồng ý mỗi bên nhận 1m ngang.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị K tranh luận: Bà đồng ý mỗi bên nhận 1m ngang.
- - Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị N tranh luận: Bà yêu bị đơn cầu trả cho bà toàn bộ phần đất tranh chấp.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Đặng Văn Đ tranh luận: Không có việc chuyển nhượng thêm 2m như phía bị đơn trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 99/2024/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K, Hội đồng xét xử nhận định:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tiêu đề “Tờ mua đất”) giữa ông Nguyễn Văn V1 với ông Nguyễn Thành V2 được Ủy ban nhân dân xã H chứng thực ngày 29 tháng 12 năm 2001 có chu vi: Dài 24 tầm; ngang sau hậu 13 tầm, ngang cập mé sông F tầm 2m (Bút lục 273). Ông V2 thừa nhận: Ông Văn nhận chuyển nhượng đất phần đất lần đầu ngang cập mé sông 06 tầm; sau chuyển nhượng thêm 2m nên ghi thêm 2m, việc ghi thêm 2m do ông Văn T1 ghi (Bút lục 287, 289). Ông V2, bà K cho rằng: Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lần đầu thì sau đó, ông V1 có chuyển nhượng cho ông V2 thêm 2m ngang mặt tiền giáp sông B nhưng ông V2, bà K không có chứng cứ chứng minh cho trình bày trên. Xét phần đất ông V2 đang sử dụng mặt tiền giáp sông B M4M5 dài 19,17m; trong khi, ông V2 nhận chuyển nhượng ngang mặt tiền giáp sông B dài 18m là sử dụng nhiều hơn phần đã nhận chuyển nhượng 1,17m.
- Xét, phần đất ông V2, bà K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 465 và thửa 806 tờ bản đồ số 5 có diện tích 6.537m²; nhưng thực tế ông V2, bà K đang sử dụng phần đất diện tích 6.811,5m² (đã trừ diện tích đất tranh chấp 293,4m²) là nhiều hơn diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 274,5m². Như vậy, ông V2, bà K đang sử dụng phần đất nhiều hơn diện tích đất nhận chuyển nhượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, ông V2, bà K đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trùm luôn khu mộ. Sau khi án sơ thẩm xử, ông V2, bà K không kháng cáo đối với phần khu mộ diện tích 705m² mà chỉ kháng cáo đối với lối vào khu mộ diện tích 78,3m².
- Tại Biên bản ghi lời khai của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, ông Huỳnh Văn C1, ông Quách Văn N2, ông Quách Văn C2 xác nhận: Vào năm 1993, ông ngoại của bà N là ông V1 có chuyển nhượng cho ông V2 phần đất có chiều ngang mặt tiền giáp sông B 6 tầm (Bút lục 187-189). Tại Biên bản xác minh ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau, ông Huỳnh Văn C1 (người ở giáp ranh đất tranh chấp), ông Lê Trường G (Trưởng ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau từ năm 2000 đến nay) xác nhận: Phần đất tranh chấp 2m để lại làm lối đi vào khu mộ và đưa quan tài vào khu mộ (Bút lục 356-357). Theo hiện trạng thực tế, mặt trước của khu mộ được xây rào bằng xi măng bao bọc, không có đường vào từ cửa trước nên để vào được khu mộ phải có chừa đường đi cặp khu mộ mới vào được. Do đó, xác nhận của những người ở địa phương phần đất tranh chấp ngang 2m là lối đi vào khu mộ là có cơ sở. Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
- Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 99/2024/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có điều chỉnh cách tuyên án để dễ thi hành án.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K mỗi người phải nộp 300.000 đồng. Ông V, bà K mỗi người có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2024/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N3 đối với ông Lê Thành V về việc thanh toán vốn và lãi vay số tiền 212.135.891 đồng.
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
Buộc ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 293,4m², tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau, có tứ cận cụ thể như sau:
- + Cạnh mặt tiền giáp kinh xáng Bạch Ngưu gồm: Cạnh M5M6 dài 1,94m, cạnh M6M7 dài 5,84m, cạnh M7M8 dài 0,91m;
- + Cạnh mặt hậu giáp phần đất còn lại không tranh chấp của ông Lê Thành V cạnh M11M12 dài 9,03m;
- + Cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp phần đất của ông Lê Thành V cạnh M11M5 dài 32,76m;
- + Cạnh trái nhìn từ mặt tiền giáp phần đất của ông Huỳnh Văn C1 cạnh M12M8 dài 34,32m.
Bà Nguyễn Thị N có quyền liên hệ với Cơ quan chuyên môn làm thủ tục điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 852046, số vào sổ 1255 được Chủ tịch UBND huyện T cấp ngày 25/11/2003, do hộ gia đình ông Lê Thành V và bà Nguyễn Thị K đứng tên quyền sử dụng.
Buộc ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ di dời cây trồng và tài sản gắn liền với phần đất tranh chấp diện tích 293,4m² nêu trên để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị N.
-
Về chi phí tố tụng: Ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 16.822.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành xong khoản tiền trên thì người phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thành V và bà Nguyễn Thị K phải nộp số tiền 10.327.680 đồng. Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí. Ngày 28/02/2023, bà N có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình theo Biên lai thu số 0003409, được nhận lại.
Ngân hàng N3 không phải chịu án phí. Ngày 28/5/2024, Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện T2 có nộp tạm ứng án phí số tiền 5.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình theo Biên lai thu số 0016234, được nhận lại.
Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 02 tháng 8 năm 2024, ông V, bà K mỗi người có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo các biên lai thu số 0016382, 0016383 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 472/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 472/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà N yêu cầu ông V và bà K phải có nghĩa vụ trả lại cho bà phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 293,4m2, tọa lạc tại ấp Xóm Lá, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau và điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Thành V, bà Nguyễn Thị K sang cho bà N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên
