TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 472/2024/HNGĐ-ST
Ngày 15-11-2024
V/v: “Tranh chấp Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Quang Minh
- Ông Nguyễn Việt Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 532/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 442/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1984, địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Quách Hồng Y, sinh năm 1986, địa chỉ cư trú: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Nguyên đơn và chị Y xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2006, nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nay, nguyên đơn xác định mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn với chị Y.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Nguyễn Trà M, sinh ngày 12/6/2007 (giới tính: Nữ), hiện cháu do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, nguyên đơn đồng ý giao cháu M cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng.
Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
- Đối với bị đơn: Chị Quách Hồng Y: Từ khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.
Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự: Đối với Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, còn Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần xét xử vắng mặt đối với Nguyên đơn và Bị đơn là phù hợp.
Về quan hệ pháp luật: Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, do Bị đơn có nơi cư trú tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: Theo anh N xác định, giữa Nguyên đơn và chị Y chung sống với nhau từ năm 2006, nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn. Quá trình giải quyết vụ án, chị Y vắng mặt và cũng không có ý kiến gì về việc Nguyên đơn xin ly hôn. Đồng thời, căn cứ vào Công văn số 281/UBND-VP ngày 02/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện T và nội dung xác nhận ngày 08/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, cùng có nội dung là giữa anh N và chị Y không có đăng ký kết hôn. Như vậy, việc anh N cho rằng giữa anh N và chị Y chung sống với nhau và đến nay chưa có đăng ký kết hôn là thực tế. Do đó, về mặt hôn nhân giữa các đương sự đã vi phạm về hình thức. Nay, Nguyên đơn có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân, do có mâu thuẫn và mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân có vi phạm về hình thức. Từ đó, căn cứ các điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nhuận, không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh N và chị Y là vợ chồng.
Về con chung: Theo anh N xác định, giữa anh và chị Y có 01 người con chung là Nguyễn Trà M, sinh ngày 12/6/2007 (giới tính: Nữ), hiện cháu do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N có cung cấp Giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã T, thể hiện cháu Nguyễn Trà M, sinh ngày 12/6/2007 (giới tính: Nữ). Ngoài ra, anh N xác định hiện cháu M do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, nên anh N đồng ý giao cháu M cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “...; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Như vậy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 15/11/2024 cháu M chưa đủ 18 tuổi, là phải ghi nhận nguyện vọng của cháu. Nhưng hiện nay cháu M do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị Y vắng mặt, không tham gia tố tụng, nên Toà án không thể ghi nhận được ý kiến của cháu M. Đồng thời, anh N đã có văn bản thống nhất giao cháu M cho chị Y nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xét vì lợi ích của con chung, đảm bảo ổn định trong cuộc sống, cần giao cháu M cho chị Y được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, phù hợp với khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Anh N không có yêu cầu, còn chị Y vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.
[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh N, anh N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 9, 14, 15, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N.
- Về hôn nhân: Không công nhận giữa anh Nguyễn Văn N và chị Quách Hồng Y là vợ chồng.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trà M, sinh ngày 12/6/2007 (giới tính: Nữ) cho chị Quách Hồng Y được quyền trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng mà anh N đã dự nộp tại Biên lai thu 5512 ngày 16/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thành Quang |
Bản án số 472/2024/HNGĐ-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 472/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
