|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 472/2024/HS-ST Ngày: 18 - 9 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
- Ông Trần Đăng Vạn
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 445/2024/TLST/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 512/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy Q (tên gọi khác: không), sinh năm 2001, tại: tỉnh Đắk Nông; Thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở: 7 Hồ B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Duy N; Mẹ: Nguyễn Thị Lệ T; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 15/5/2024.
(Bị cáo Nguyễn Duy Q có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Công ty Cổ phần T2;
Địa chỉ: A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Bé M, sinh năm 2000;
Địa chỉ: E đường D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Lương Khánh H, sinh năm 2002; (vắng mặt)
- Ông Lương Nguyễn Anh T1, sinh năm 1990. (vắng mặt)
Địa chỉ: Trường Mầm non H1, Chung cư H, khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài, Nguyễn Duy Q nảy sinh ý định lấy trộm tiền trong két sắt của cửa hàng Bách Hóa X, để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân (do trước đây Q làm nhân viên của Bách Hóa X đã nghỉ việc). Q chuẩn bị 02 cái áo khoác (01 áo khoác màu cam của shoppe và 01 áo khoác màu đen), 01 mũ lưỡi trai màu đen và 01 khẩu trang để tránh sự phát hiện.
Khoảng 00 giờ 35 phút ngày 15/5/2024, Nguyễn Duy Q (điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha, màu xanh, biển số 36N1-2291 để tại đầu hẻm S, bên cạnh Bách Hóa X, địa chỉ: C, đường T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Q đi bộ đến vị trí cầu dao tổng của cửa hàng B, kéo công tắc tổng để ngắt nguồn điện của cửa hàng. Sau đó, Q đi bộ đến vị trí khoá cửa cuốn giữa của Bách Hóa X và dùng tay để mở khoá số cửa cuốn, mật khẩu khoá số là “7676” và mở được cửa cuốn đi vào bên trong Bách Hóa X. Khi vào bên trong cửa hàng, Q đi đến vị trí quầy thu ngân để lấy chìa khoá của két sắt (do trước đây Q là nhân viên tại đây nên biết vị trí để két sắt và chìa khoá két sắt) tại hộc tủ thứ hai của quầy thu ngân rồi Q cắm chìa khoá vào két sắt ngay bên dưới của quầy thu ngân và mở cửa két sắt (cắm chìa khoá vào và mở được cửa két sắt, không cần mật khẩu). Sau đó, Q lấy tiền trong hộp giấy carton với tổng số tiền là 26.468.000 đồng bỏ vào túi nilon màu trắng và đi ra khỏi cửa hàng đến vị trí để xe bỏ bịch đựng tiền vào cốp xe, thay áo khoác màu đen sang áo khoác shoppee và điều khiển xe tẩu thoát về hướng Đường D. Khi đến gần địa chỉ 94, Đường D, KDC Bắc R, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì Q ném chìa khoá két sắt vào bãi đất trống. Đến khoảng 01 giờ 20 phút, ngày 15/5/2024, Q điều khiển xe đến trụ ATM, địa chỉ 282, Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để vào nạp số tiền 15.500.000 đồng vào tài khoản của Q tên NGUYEN DUY QUAN, số tài khoản 19037132256014, ngân hàng T3. Q điều khiển xe mô tô trên đường Đ, khi đến gần chợ P thì gặp người đi đường (là nữ, không rõ lai lịch) nhờ đổi tiền lẻ với tổng số tiền 2.000.000 đồng và nhờ nạp tiền vào tài khoản của Q. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô quay lại trụ ATM, địa chỉ 282, Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để nạp thêm số tiền 6.600.000 đồng vào tài khoản của Q rồi Q về phòng trọ của mình tại địa chỉ 3 Hồ B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 15/5/2024, chị Huỳnh Thị Bé M (Sinh năm: 2000) là quản lý của cửa hàng đến làm việc phát hiện sự việc bị mất tiền nên trình báo đến Công an phường P.
Qua truy xét ngày 15/5/2024, Cơ quan Công an đưa Nguyễn Duy Q (là nhân viên cũ của cửa hàng trên) về trụ sở làm rõ. Tại trụ sở Công an phường, Q đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản là 26.468.000 đồng với mục đích để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền Quân đã nạp vào tài khoản của Q (tài khoản tên NGUYEN DUY QUAN, số tài khoản 19037132256014, ngân hàng T3) là 24.100.000 đồng. Số tiền này Q chuyển khoản trả nợ cho các khoản vay tín dụng trên mạng. Số tiền mặt còn lại là 2.368.000 đồng, Q đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 16/5/2024 Cơ quan điều tra ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Duy Q.
Vật chứng vụ án.
- 01 (một) điện thoại Xiaomi 11T cũ;
- 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen;
- 01 (một) áo khoác dài tay màu cam;
- 01 (một) quần tây dài màu đen;
- Số tiền 131.000 đồng.
- 01 (một) một ví màu đen.
01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha màu xanh, biển số: 36N1-2291 số khung RLHHC09027Y864248; Số máy HC09E6684893; Qua xác minh xe mô tô trên do ông Lương Nguyễn Anh T1, địa chỉ: Y, Y, Thanh Hóa đứng tên chủ sở hữu, ông T1 cho cháu là chị Phan Lương Khánh H (sinh năm 2002) sử dụng, vào khoảng tháng 3/2024, Nguyễn Duy Q hỏi mượn xe trên mục đích để đi giao hàng cho S thì chị H đồng ý. Chị H và ông T1 không biết Q dùng xe để đi trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả xe cho chủ sở hữu là ông Lương Nguyễn Anh T1.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Huỳnh Thị Bé M - Đại diện Công ty Cổ phần T2 đã nhận lại số 26.468.000 đồng do gia đình bị cáo Q bồi thường và không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 428/CT-VKS.TPTĐ ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Duy Q về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường khắc phục hậu quả. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2017, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q từ 09 tháng đến 1 năm tù.
Phần dân sự đã giải quyết xong. Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Duy Q không tranh luận, bào chữa.
Lời sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Duy Q phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Vì động cơ vụ lợi bất chính nên vào ngày 15/5/2024, tại địa chỉ 34, đường T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Duy Q có hành vi lén lút lấy trộm tổng số tiền là 26.468.000 đồng của cửa hàng B.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Duy Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đã bồi thường cho bị hại theo điểm b khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là không phù hợp do số tiền bồi thường là của gia đình bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi nhận lại tài sản, bà Phan Lương Khánh H, ông Lương Nguyễn Anh T1 và bà Huỳnh Thị Bé M là người đại diện cửa hàng Bách Hóa X không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 Xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha màu xanh, biển số: 36N1-2291 số khung RLHHC09027Y864248; Số máy HC09E6684893 là tài sản của ông Lương Nguyễn Anh T1, ông T1 không biết Q sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T1.
- 01 (một) điện thoại Xiaomi 11T cũ có liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Số tiền 131.000 đồng thu giữ của bị cáo Q: Do gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử xét trả lại số tiền này cho bị cáo.
- 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay màu cam; 01 (một) quần tây dài màu đen, 01 (một) một ví màu đen là trang phục liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024.
- Ghi nhận bị hại Công ty Cổ phần T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Nguyễn Anh T1, bà Phan Lương Khánh H không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại Xiaomi 11T cũ;
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy Q số tiền 131.000 đồng.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay màu cam; 01 (một) quần tây dài màu đen, 01 (một) một ví màu đen là trang phục liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
(Phiếu nhập kho số NK21/412C ngày 14/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
Tiền tại Giấy nộp tiền mặt vào tài khoản 39490303059900000 ngày 28/8/2024 của Ngân hàng B1).
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Duy Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 472/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 472/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
