Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 472/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 – 7 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tuấn

Bà Trương Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:

Không.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 228/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 368/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 433/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lương Công B, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số E, tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng ông Lương Công B trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Mỹ T chung sống vào năm 2000, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ T; Về con chung: Có 01 chung tên Lương Băng B1, sinh ngày 26/5/2001, hiện con đã đủ 18 tuôi và có khả năng lao động được, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình chuẩn bị xét xử bà Nguyễn Thị Mỹ T trình bày: Về hôn nhân: Bà không đồng ý ly hôn với ông Lương Công B, vì bà còn thương chồng và con; Về con chung: Có 01 con chung tên Lương Băng B1, sinh ngày 26/5/2001, hiện con đả đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Vợ chồng có 10 chỉ vàng 24K (tạm tính 10 chỉ vàng 24K khoảng 70.000.000 đồng) hiện do ông B đang quản lý, bà yêu cầu chia đôi, bà yêu cầu được nhận 05 chỉ vàng 24K; 01 chiếc xe Yamaha hiệu Sirius mua vào năm 2003 hiện do ông B đang giữ (biển số kiểm soát không nhớ) giá trị xe khoảng 15.000.000 đồng (yêu cầu chia đôi, bà yêu cầu nhận tiền là 7.500.000 đồng); 25.000.000 đồng tiền cố hầm cá của ông Lương Hoàng L vào năm 2001, ông L trả lại cho ông B 25.000.000 đồng, hiện nay ông B đang giữ số tiền 25.000.000 đồng. Yêu cầu chia đôi, tôi yêu cầu nhận tiền là 12.500.000 đồng); Vợ chồng có sửa căn nhà cất trên đất của mẹ chồng Nguyễn Thị C 60.000.000 đồng (Đất chưa cấp giấy chứng nhận QSDĐ). Yêu cầu ông B hoàn lại cho bà 30.000.000 đồng; Về nợ chung: Không có.

Tại phiên toà,

Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn khởi kiện và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm về vụ án như sau:

  • Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông B đối với bà T; Về con chung: Không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét; Về án phí, quyền kháng cáo giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông B yêu cầu ly hôn với bà T. Do đó, HĐXX xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Bà T có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho đương sự. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.

[1.4] Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Ông B vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B và bà T là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Hội đồng xét xử thấy rằng, ông B và bà T1 đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân giữa ông B và bà T là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Ông B cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử toà án đã thực hiện thủ tục hoà giải để tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ mặc dù bà T cho rằng còn tình cảm với ông B nhưng ông B vẫn giữ nguyên ý kiến ly hôn với bà T. Điều này chứng tỏ ông B không còn yêu thương, không mong muốn tiếp tục đoàn tụ với bà T.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, ông bà đã không còn yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thể cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Điều này thể hiện ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do đó, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”

Từ những phân tích trên, HĐXX thấy rằng yêu cầu ly hôn của ông B đối với bà T là phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung:

Hội đồng xét xử thấy rằng, ông bà có 01 chung tên Lương Băng B1, sinh ngày 26/5/2001, hiện con chung đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:

HĐXX thấy rằng, ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà T có trình bày yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nhưng không thực hiện thủ tục yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng theo yêu cầu Tòa án nên Tòa án không thụ lý giải quyết là đúng quy định; Về nợ chung ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp ông bà có tranh chấp tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn thì có thể khởi kiện bằng vụ kiện khác.

[3] Về án phí:

Ông Lương Công B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp; Bà Nguyễn Thị Mỹ T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 19, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lương Công B đối với bà Nguyễn Thị Mỹ T. Ông Lương Công B và bà Nguyễn Thị Mỹ T ly hôn.
  2. Về quan hệ con chung: Không xem xét.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí:
  5. Ông Lương Công B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005602 ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, đương sự có mặt tính kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - UBND xã Bình Mỹ, H.Châu Phú;
  • - Viện KSND huyện Châu Phú;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 472/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 472/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger