Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4712/2024/DS-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Mai Thanh Giàu
  2. Ông Phạm Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2055/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6084/2024/QĐXXST–DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7354/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Minh Q, sinh năm 2000

Địa chỉ: số E đường số F, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Bị đơn:

  1. Ông Trần Công P, sinh năm: 1965
  2. Bà Trần Ngọc N, sinh năm: 1964

Cùng địa chỉ: số D đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Minh Q trình bày: Do quen biết thông qua một người bạn giới thiệu, ông Lê Minh Q có cho vợ chồng ông Trần Công P, bà Trần Ngọc N vay số tiền tổng cộng là 1.390.000.000 đồng. Ông P ký Giấy mượn tiền ngày 20/02/2023 vay số tiền là 1.340.000.000 đồng và Giấy mượn tiền ngày 16/9/2023 là 50.000.000 đồng. Sau đó, hai bên thống nhất lập lại Giấy mượn tiền đề ngày 20/02/2023 với tổng số tiền là 1.390.000.000 đồng, với thời hạn vay 5 tháng, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Ông P cam kết ngày 20/7/2023 sẽ trả dứt điền tiền gốc và tiền lãi. Tuy nhiên, hết thời hạn vay nhưng vợ chồng ông P, bà N không thực hiện nghĩa vụ và có hứa trả nhiều lần nhưng cũng không thực hiện. Để làm tin cho khoản vay, vào ngày 18/10/2023 ông P ký Hợp đồng mua bán phần đất tại thửa đất số 194 – tờ bản đồ 11 phường L, thành phố T (địa chỉ đất tại số F đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) cho ông Q. Việc ông P ký Hợp đồng mưa bán đất là để làm tin cho việc trả nợ nhưng sau thời gian dài ông P và bà N cũng không thực hiện các nghĩa vụ trả nợ nên ông Q phải khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Trần Công P, bà Trần Ngọc N phải trả toàn bộ nợ vay là 1.390.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất 1,6%/ tháng, tính từ ngày 20/02/2023 cho đến khi trả hết nợ. Ông Q yêu cầu hủy bỏ việc mua bán đất theo Hợp đồng mua bán đất đã ký kết ngày 18/10/2023 vì việc mua bán này không có thật.

Mặc dù bà N không ký tên trong các giấy mượn tiền nhưng bà N có biết việc này và ông P vay tiền là để giải quyết việc gia đình nên ông Q yêu cầu vợ chồng ông P cùng có trách nhiệm trả cho ông Q.

Bị đơn ông Trần Công P có đến Tòa án xác nhận có vay tiền của ông Q để giải quyết việc gia đình như nội dung ông Q đã khởi kiện nhưng do khó khăn chưa bán được đất nên chưa có tiền trả cho ông Q. Ông P xác nhận bà Trần Ngọc N là vợ ông nhưng mọi chuyện do ông quyết định, ông là người nhận tiền của ông Q và sẽ trả cho ông Q, bà N không biết gì về việc này. Nếu cần bà N ký các giấy tờ thì bà N sẽ đến ký. Ông xác nhận việc ông và ông Q lập hợp đồng mua bán đất ngày 18/10/2023 là để làm tín chứ không có việc mua bán thật nên ông đồng ý với ông Q hủy bỏ Hợp đồng này.

Tại phiên tòa:

- Ông Lê Minh Q vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc vợ chồng ông Trần Công P và bà Trần Ngọc N phải trả cho ông số tiền nợ đã vay là 1.390.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 20/02/2023 và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,6%/tháng tạm tính từ ngày 20/02/2023 đến ngày 27/9/2024 là 422.560.000 đồng. Tổng cộng yêu cầu ông P bà N cùng có trách nhiệm trả số tiền là 1.812.560.000 đồng. Yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng mua bán đất ngày 18/10/2023.

- Bị đơn ông Trần Công P có mặt tham gia phiên tòa, đồng ý trả nợ cho ông Q theo phán quyết của Hội đồng xét xử. Bà Trần Ngọc N là vợ ông, có biết việc ông vay tiền của ông Q nhưng bà N không tham gia trong việc này, mọi việc do ông tự quyết định, ông sẽ tự chịu trách nhiệm trả. Vì gia đình có việc bận nên bà N không thể đến Tòa để giải quyết vụ án.

- Bà Trần Ngọc N vắng mặt không có lý do.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Ông P đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Bà N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bà N là đúng quy định.

- Về nội dung: Do bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong Giấy vay tiền ngày 20/02/2023 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Đồng thời, việc nguyên đơn yêu cầu trả tiền lãi theo mức lãi suất 1,6%/ tháng thấp hơn mức lãi suất do hai bên thỏa thuận trong Giấy vay tiền là có lợi cho bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hai bên xác nhận việc Hợp đồng mua bán đất ngày 18/10/2023 chỉ là để làm tin, không có thật, hai bên thống nhất hủy bỏ việc xác lập hợp đồng này nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Lê Minh Q khởi kiện ông Trần Công P, bà Trần Ngọc N yêu cầu trả nợ đã vay theo Giấy mượn tiền ngày 20/02/2023. Ông P, bà N có nơi cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về việc tham gia Tố tụng của các đương sự:

  • - Ông Lê Minh Q, ông Trần Công P thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
  • - Bà Trần Ngọc N đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn không đến Tòa án, cũng không gửi cho Tòa án ý kiến của mình về việc bị khởi kiện hoặc lý do vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà N theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện ông Lê Minh Q có cho vợ chồng ông Trần Công P và bà Trần Ngọc N vay tổng số tiền là 1.390.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 20/02/2023. Ông Trần Công P có mặt xác nhận số tiền đã vay và việc ký xác nhận các Giấy vay tiền với ông Q như tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ông P có cam kết trả nợ gốc, nợ lãi cho ông Q trong thời hạn 05 tháng nhưng do khó khăn trong việc mua bán đất nên chưa trả các khoản nợ cho ông Q. Ông P đồng ý trả toàn bộ nợ vay cho ông Q theo phán quyết của Hội đồng xét xử. Tuy ông P yêu cầu được tự chịu trách nhiệm trả nợ cho ông Q, không cần bà N cùng tham gia trả nợ nhưng đây là nghĩa vụ chung của vợ chồng trong thời ký hôn nhân phải thực hiện. Theo Giấy mượn tiền ngày 20/02/2023, hai bên thỏa thuận tiền lãi là 3%/tháng, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q thấy ông P, bà N thực sự có khó khăn nên chỉ yêu cầu số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,6%/tháng là có lợi cho ông P, bà N. Do đó, yêu cầu của ông Q buộc ông P, bà N cùng có trách nhiệm trả cho ông Q số tiền nợ gốc 1.390.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 422.560.000 đồng là có cơ sở châp nhận.

Đồng thời, ông P và ông Q cùng xác nhận việc ký Hợp đồng mua bán đất ngày 18/10/2023 về việc mua bán phần đất tại thửa đất số 194 – tờ bản đồ 11 phường L, thành phố T (địa chỉ đất tại số F đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) chỉ là để làm tin cho việc trả nợ, việc mua bán là không có thật nên thống nhất hủy bỏ Hợp đồng mua bán đã ký kết. Xét thấy, việc hai bên ký hợp đồng là có thật nhưng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của nhau, không làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, hai bên thống nhất hủy bỏ hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, nguyên đơn yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng mua bán đất ngày 18/10/2023 là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Trần Công P, bà Trần Ngọc N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 36.000.000 đồng + 3% (1.812.560.000 đồng – 800.000.000 đồng) + 300.000 đồng = 66.676.800 đồng.

H lại cho ông Lê Minh Q tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273; Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 385, 401, 422, 423, 463, Điều 466, 470, 500, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Minh Q.

  1. Buộc ông Trần Ngọc P1 và bà Trần Ngọc N cùng liên đới trả cho ông Lê Minh Q tổng số tiền còn nợ theo Giấy mượn tiền ngày 20/02/2023 là 1.812.560.000 đồng (Một tỉ tám trăm mười hai triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng). Trong đó: Tiền nợ gốc là 1.390.000.000 đồng (Một tỉ ba trăm chín mươi triệu đồng) và tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 422.560.000 đồng (Bốn trăm hai mươi hai triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng).
  2. Hủy Hợp đồng mua bán đất do ông Lê Minh Q và ông Trần Công P ký ngày 18/10/2023 về việc mua bán phần đất tại thửa đất số 194 – tờ bản đồ 11 phường L, thành phố T (địa chỉ đất tại số F đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).

Kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông P, bà N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thi hành án theo mức lãi suất do văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Công P và bà Trần Ngọc N cùng liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm là 66.676.800 đồng (Sáu mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi sáu ngàn tám trăm đồng) tại C có thẩm quyền.

H lại cho ông Lê Minh Q tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.818.800 (Hai mươi chín triệu tám trăm mười tám ngàn tám trăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0000835 ngày 23/11/2023 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000468 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ ĐứC, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

  1. Về quyền kháng: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với trường hợp vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -Tòa án ND TP.HCM
  • - Viện KSND TP.TD
  • - Chi cục THADS TP.TD
  • - Đương sự
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thái Thị Cẩm Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4712/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4712/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay cá nhân không thế chấp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger