|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 471/2024/DS-PT
Ngày: 22-11-2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Quán.
Bà Phùng Thị Cẩm Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Vào ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 416/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 437/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa:
-
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trí M, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 04/11/2024).
-
Bị đơn:
- Bà Trần Thị X, sinh năm 1962.
- Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1961.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị X: Luật sư Huỳnh Như H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị X.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
(Ông M, bà X, bà L có mặt,
Các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị B trình bày như sau:
Bà và bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú là chỗ bạn bè quen biết. Vợ chồng bà X, ông Ú trình bày là đang khó khăn, cần tiền xoay sở làm ăn nên hỏi vay tiền. Bà B đồng ý cho vay.
Vào ngày 15/01/2023, bà có cho bà X và ông Ú mượn số tiền 600.000.000 đồng, để đảm bảo số tiền trên, ông Ú và bà X đã ký hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, số giấy chứng nhận Đ 026968, số vào sổ 2204/QSDĐ/0716-LA cấp ngày 19/02/2004.
Sau đó, bà X và ông Ú đã mượn tiền nhiều lần, cụ thể các lần mượn như sau:
- Vào ngày 15/3/2023: Số tiền 100.000.000đồng.
- Vào ngày 20/3/2023: Số tiền 300.000.000đồng.
- Vào ngày 24/4/2023: Số tiền 100.000.000đồng.
- Vào ngày 23/5/2023: Số tiền 400.000.000đồng.
- Vào ngày 30/6/2023: Số tiền 100.000.000đồng.
- Vào ngày 15/11/2023: Số tiền 100.000.000đồng.
- Vào ngày 15/12/2023: Số tiền 100.000.000đồng.
Tổng cộng nhiều lần mượn tiền, số tiền ông Ú và bà X còn thiếu bà là 1.800.000.000đồng.
Bà đã nhiều lần liên hệ với bà X, ông Ú để yêu cầu bà X, ông Ú trả cho bà nhưng bà X, ông Ú vẫn cố tình né tránh.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An tại Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị B với bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú.
Buộc bà X, ông Ú có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà B số tiền đã vay 1.800.000.000đồng và lãi suất 20%/năm. Thời gian tính lãi, cụ thể như sau:
- Đối với số tiền 600.000.000đồng, tính từ ngày 15/02/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 152.056.000đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000đồng, tính từ ngày 15/3/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 23.682.667đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000đồng, tính từ ngày 15/3/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 23.682.667đồng.
- Đối với số tiền 300.000.000đồng, tính từ ngày 20/3/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 70.218.000đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000đồng, tính từ ngày 24/4/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 21.524.667đồng.
- Đối với số tiền 400.000.000đồng, tính từ ngày 23/5/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 79.680.000đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000đồng, tính từ ngày 30/6/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 17.872.667đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000đồng, tính từ ngày 15/11/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 10.402.667đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000đồng, tính từ ngày 15/12/2023 đến ngày 23/5/2024, tạm tính là 8.742.667đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà B thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, trước đây, bà yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất thì nay bà yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An tại Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị B với bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú.
Bà đồng ý khấu trừ tiền lãi 183.000.000 đồng mà bà X và ông Ú đã trả cho bà vào tổng số tiền mà bà X, ông Ú phải trả cho bà. Ngoài ra, bà B không còn yêu cầu nào khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được ký giữa bà X, ông Ú với bà B
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Thị X trình bày:
Bà và bà Nguyễn Thị B là bạn bè quen biết. Do cần tiền nên vào ngày 15/02/2023, vợ chồng bà (bà và ông Ú) có ký giấy vay bà Nguyễn Thị B số tiền 600.000.000đồng, để đảm bảo cho khoản vay thì vợ chồng bà có ký hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất (không có tài sản) đối với thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An với bà B tại Văn phòng C1.
Những lần tiếp theo, do con gái bà là Nguyễn Thị Mỹ L không có tiền, cần tiền làm ăn nên vay tiền của bà B nhưng vì thương con nên bà ký vào các lần mượn nợ 15/3/2023, 20/3/2023, 24/4/2023, 23/5/2023, 30/6/2023, còn tiền thì bà L nhận từ bà B. Như vậy, tổng cộng các lần mượn của bà và bà L thì bà thống nhất nợ bà B tổng cộng là 1.600.000.000 đồng. Riêng đối với hai lần mượn nợ 15/11/2023 và 15/12/2023, chữ ký và chữ viết Trần Thị X là của bà. Tuy nhiên, đây là tiền lãi, do hai tháng này, bà và con bà là L không trả lãi được nên bà B bắt viết và ký giấy nợ.
Nay bà B yêu cầu:
Vô hiệu hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An tại Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị B với bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú thì bà đồng ý.
Bà B yêu cầu bà và ông Ú có trách nhiệm liên đới trả số tiền gốc đã vay là 1.800.000.000đồng và lãi suất thì bà không đồng ý. Bà chỉ đồng ý trả số tiền đã vay tổng cộng 1.600.000.000đồng, không đồng ý trả lãi, vì đã trả quá nhiều. Đồng thời yêu cầu, khấu trừ số tiền lãi mà bà đã trả cho bà B, tổng cộng là 183.000.000đồng.
Bà yêu cầu bà B trả lại cho bà bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 026968, số vào sổ 2204 QSDĐ/0716-LA do UBND huyện Đ cấp ngày 19/02/2024 cho bà Trần Thị X đối với thửa đất 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn Ú trình bày tại Bản tự khai ngày 02/5/2024: Ông thống nhất theo lời trình bày của bà Trần Thị X, ông không trình bày gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim L1 trình bày như sau: Bà thống nhất theo lời trình bày của mẹ bà là bà Trần Thị X. Ngoài ra, bà không có yêu cầu nào khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; Điều 124 BLDS, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, “Tranh chấp vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú.
- - Ghi nhận sự tự nguyện của bà B với bà X, ông Ú, theo đó, buộc bà B có trách nhiệm trả lại cho bà X, ông Ú giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) số Đ 026968, số vào sổ 2204 QSDĐ/0716-LA do UBND huyện Đ cấp ngày 19/02/2024 cho bà Trần Thị X đối với thửa đất 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được ký giữa bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú với bà Nguyễn Thị Bích .
- - Buộc bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền là 2.001.179.335 đồng (gốc 1.800.000.000 đồng, lãi 201.179.335 đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền đã nộp 300.000 đồng và 37.000.000 đồng theo biên lai đã nộp số 0000681, 0000680 cùng ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tình L.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.
Ngày 07/6/2024, bà Trần Thị X kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm đối với số tiền vay.
Ngày 20/6/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An sửa bản án sơ thẩm theo hướng tính lại tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng và đề nghị xác định lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Nguyễn TRí M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Theo đơn khởi kiện, bà B yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được ký giữa bà X, ông Ú với bà B là do nhầm lẫn vì giữa bà B và bà X, ông Ú chỉ có ký “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, được Văn phòng C2 ngày 15/2/2023, số công chứng 613, quyển số 2/2023 TP/CC-SCC-HĐGD).
Ông xác định lại yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được ký giữa bà X, ông Ú với bà B. Bà B đồng ý trả lại cho bà X, ông Ú giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) số Đ 026968, số vào sổ 2204 QSDĐ/0716-LA do UBND huyện Đ cấp ngày 19/02/2024 cho bà Trần Thị X đối với thửa đất 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Đối với hợp đồng vay tài sản đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà X.
Bà Trần Thị X trình bày: Bà đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 giữa bà X, ông Ú với bà B. Bà B phải trả lại cho bà X giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính).
Đối với tiền vay: Bà thừa nhận bà chỉ có vay 600.000.000 đồng, phần còn lại là do bà L1 con ruột bà vay và nhận tiền nên L1 phải có nghĩa vụ trả.
Bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày: Bà đã trả cho bà B hơn 400.000.000 đồng, bà đồng ý trả cho bà B số tiền còn nợ 319.000.000 đồng.
Luật sư Huỳnh Như H trình bày: Quá trình giao dịch vay tiền và nhận tiền là do bà L con ruột bà B thực hiện và nhận tiền, bà X chỉ ký tên trong giấy nợ. Ông đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa bà X, ông Ú với bà B, đối với số tiền vay bà L là người trực tiếp nhận tiền nên bà L phải có nghĩa vụ trả tiền cho bà B. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà X, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Trần Thị X và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị X và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, thấy rằng:
* Về phần tính lãi suất
Căn cứ Giấy mượn tiền thể hiện bà X có vay của bà B tổng cộng 1.800.000.000đ. Bà X cho rằng chỉ mượn nợ của bà B 1.600.000.000đ, đối với hai lần mượn nợ ngày 15/11/2023; ngày 15/12/2023, chữ ký và chữ viết “Trần Thị X” là của bà X nhưng bà X cho đây là tiền lãi do bà và con bà là L không trả lãi được nên bà B bắt viết và ký giấy nợ nhưng bà X không cung cấp được chứng cứ chứng minh đối với hai lần mượn nợ ngày 15/11/2023 và ngày 15/12/2023 là tiền lãi như bà X trình bày.
Xét thấy tại “Giấy mượn tiền” do bà Nguyễn Thị Bích cung C thể hiện bà Trần Thị X có ký nhận tiền của bà B vào các ngày 15/02/2023, 15/3/2023, 20/3/2023, 24/4/2023, 23/5/2023, 30/6/2023, 15/11/2023 và ngày 15/12/2023, tổng cộng số tiền là 1.800.000.000đ. Bà X thừa nhận là chữ ký là của bà X.
Giấy mượn tiền không thể hiện các bên thỏa thuận lãi suất khi vay cũng như thời hạn trả tiền. Bà B cho rằng cho vay với lãi suất 3%/tháng, còn bà X trình bày vay với lãi suất là 5%/tháng. Giấy mượn tiền bà B cung cấp không thể hiện mức lãi suất các bên thỏa thuận khi vay; đồng thời giữa bà B và vợ chồng bà X, ông Ú trình bày không thống nhất về mức lãi suất.
Bà X trình bày có trả lãi nhiều lần tổng số tiền vừa chuyển khoản Ngân hàng vừa trả tiền lãi bằng tiền mặt là 183.000.000đ. Theo sao kê của Ngân hàng cung cấp thể hiện ngày 17/3/2023 tức là sau một tháng lẻ hai ngày (ngày 15/02/2023 bà X mượn 600.000.000đ) bà L (con bà X) có chuyển khoản trả tiền lãi cho bà B số tiền 24.000.000đ, số tiền lãi này không khớp với mức lãi suất 3%/tháng bà B trình bày và bà X 5%/tháng trình bày. Trong các tháng khác thể hiện qua sao kê của Ngân hàng thì con bà X là bà L chuyển khoản trả là tiền lãi vay như: Tháng 4 trả lãi 20.000.000đ; tháng 5 trả lãi 18.000.000đ; tháng 6 trả lãi 30.000.000đ; tháng 7 trả lãi 6.000.000đ; tháng 9 trả lãi 34.000.000đ; tháng 10 trả lãi 8.000.000đ; tháng 11 trả lãi 21.000.000đ. Như vậy bà X sau khi mượn nợ của bà B tuy có trả tiền lãi mỗi tháng nêu trên nhưng việc trả tiền lãi này không khớp mới mức lãi suất mà bà B (3%) và bà X (5%) trình bày.
Căn cứ khoản 2, Điều 468 BLDS năm 2015 quy định về Lãi suất:
“2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B buộc vợ chồng bà X, ông Ú trả lãi theo mức lãi suất 20%/năm là chưa phù hợp, làm ảnh hưởng quyền lợi của bà X, ông Ú.
* Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị B về việc vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất: Bà B yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An giữa bà B với vợ chồng bà X, ông Ú.
Căn cứ chứng cứ trong hồ sơ thể hiện giữa bà B và với vợ chồng bà X, ông Ú chỉ có ký “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, được công chứng tại Văn phòng C2 ngày 15/2/2023, số công chứng 613, quyển số 2/2023TP/CC-SCC-HĐGD), cũng như không thấy có ký hợp đồng ủy quyền về quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối thửa đất số 662, nhưng cấp sơ thẩm lại thụ lý giải quyết yêu cầu của bà B về “Tranh chấp vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất” và tuyên
“Vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được ký giữa bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú với bà Nguyễn Thị Bích .” là không đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà B xác định lại yêu cầu khởi kiện từ vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất đối với thửa đất 662 giữa bà B với bà X, ông Ú thành Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được ký giữa bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú với bà Nguyễn Thị Bích . Phía bà X trình bày tại phiên tòa, bà X chỉ ký với bà B Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có ký hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất với bà B đối với thửa đất 662 trên và thống nhất việc bà B yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ được ký giữa bà X, ông Ú với bà B này.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị X; Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An. Căn cứ khoản 2, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị sửa Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị X và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện, bà B yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được ký giữa bà X, ông Ú với bà B. Tuy nhiên giữa các bên không có ký kết hợp đồng ủy quyền mà ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đều thống nhất vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên xác định lại quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Ú.
-
Xét kháng cáo của bà Trần Thị X và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, thấy rằng:
-
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã trình bày thống nhất quá trình giao dịch như sau:
Hai bên thừa nhận bà B cho bà X, ông Ú vay số tiền 600.000.000 đồng và để đảm bảo cho số tiền vay nên hai bên đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Xét hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An tại Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị B với bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú: Các đương sự thống nhất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp đồng giả tạo che dấu hợp đồng vay tài sản, nên có căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà B cho bà X, ông Ú số công chứng 613, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 tại Văn phòng C1 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được lập là giả tạo nhằm mục đích che giấu giao dịch vay tiền giữa bà B, bà X, ông Ú. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng ủy quyền giữa các bên vô hiệu là chưa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện và các đương sự đều thống nhất vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà B có nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X (do chưa sang tên cho bà B) nên không cần thiết phải hủy bản án dân sự sơ thẩm giao về giải quyết lại, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các bên.
-
Hậu quả pháp lý đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà B và bà X, ông Ủ bị vô hiệu:
Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che dấu vẫn có hiệu lực, như vậy hợp đồng vay tài sản giữa các bên có hiệu lực pháp luật.
Bà B yêu cầu bà X, ông Ú liên đới trả số tiền 1.800.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà X, ông Ú không đồng ý, chỉ đồng ý trả gốc và lãi tổng cộng 1.600.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà X đồng ý trả 600.000.000 đồng, bà L trả số tiền 319.000.000 đồng.
-
Đối với số tiền vay 1.800.000.000 đồng:
Xét thấy, căn cứ vào giấy mượn tiền vào các ngày 15/02/2023, 15/3/2023, 20/3/2023, 24/4/2023, 23/5/2023, 30/6/2023, 15/11/2023 và 15/12/2023 thì bà X đều thừa nhận đó là chữ ký của bà.
Bà X trình bày, bà chỉ có vay bà B 600.000.000 đồng ngày 15/02/2023, phần còn lại bà chỉ ký nhận, còn người nhận tiền là bà L. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà X đồng ý cùng ông Ú liên đới trả cho bà X gốc và lãi là 1.600.000.000 đồng. Bà X cho rằng các lần ký giấy nợ 15/02/2023, 15/3/2023, 20/3/2023, 24/4/2023, 23/5/2023, 30/6/2023 tổng cộng là 1.600.000.000 đồng, bao gồm gốc và lãi. Tuy nhiên, bà X không có cung cấp được chứng cứ gì chứng minh số tiền bà ký đã bao gồm lãi. Trong khi đó, trong quá trình làm việc và tại phiên tòa thì bà X trình bày bà B cho vay lãi suất 5%/tháng, trong khi đó nếu ngày 15/02/2023 ông Ú và bà X vay 600.000.000 đồng thì đến ngày 15/3/2023, lãi suất sẽ là 30.000.000 đồng, tuy nhiên, bà X lại ký giấy nhận tiền 100.000.000 đồng. Ngoài ra, bà X cũng cung cấp các chứng cứ thể hiện, mỗi tháng đều trả lãi cho bà B, cụ thể ngày 17/3/2023, 22/4/2023, 19/6/2023,... như vậy, các lời trình bày của X là không phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà X trình bày, bà vay tiền của bà B dùm con bà là bà L. Bà đồng ý trả cho bà B 600.000.000 đồng, phần còn lại bà L phải có nghĩa vụ trả là không có căn cứ.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của và B về việc yêu cầu bà X, ông Ú có trách nhiệm liên đới trả số tiền gốc 1.800.000.000 đồng là có căn cứ.
-
Đối với tiền lãi:
Thấy rằng, Hợp đồng vay tài sản giữa các bên không ghi lãi suất, nhưng các bên thừa nhận có lãi, thực tế hàng tháng bà Trần Thị X trả lãi cho bà Nguyễn Thị B trên số tiền vay với số tiền lãi đã trả là 183.000.000 đồng, như vậy có căn cứ xác định hợp đồng vay tài sản giữa các bên là hợp đồng vay có lãi.
Bà Nguyễn Thị B trình bày cho vay với lãi suất 3%/tháng, còn bà Trần Thị X thì xác định vay với lãi suất 5%/tháng. Thấy rằng sau khi vay tiền bà X chuyển khoản trả lãi cho bà B thời gian dài tổng cộng 183.000.000 đồng, chứng cứ bà Trần Thị X cung cấp là bản sao kê thông tin chuyển khoản cho bà B. Cụ thể vào ngày ngày 17/3/2023 thì bà Nguyễn Thị Mỹ L chuyển khoản số tiền 24.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị B và được bà Nguyễn Thị B thừa nhận đó là tiền lãi. Như vậy, có cơ sở xác định lãi suất cho vay giao động từ 3% đến 4%/tháng (đến thời điểm ngày 17/3/2023 thì bà Trần Thị X đã vay của bà Nguyễn Thị B số tiền 700.000.000 đồng, số tiền 24.000.000 đồng trả lãi cho số tiền 600.000.000 đồng tương ứng 4%/tháng), bà X trình bày lãi suất 5%/tháng nhưng không có chứng cứ gì chứng minh.
Việc các bên thỏa thuận lãi suất 3% đến 4% là vượt mức lãi suất cho phép. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì lãi suất cho vay không được vượt quá 20%/năm. Do các đương sự thỏa thuận về lãi suất cao hơn mức lãi suất được pháp luật quy định nên Tòa án điều chỉnh lại lãi suất cho phù hợp là 1,66%/tháng, số tiền lãi bà X đã trả 183.000.000 đồng sẽ được khấu trừ vào số tiền bà X phải trả.
Số tiền lãi được tính như sau:
- Đối với số tiền 600.000.000 đồng, tính từ ngày 15/02/2023 đến ngày 23/5/2024, cụ thể là 600.000.000 đồng x 1,66% x 15 tháng 08 ngày = 152.056.000 đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000 đồng, tính từ ngày 15/3/2023 đến ngày 23/5/2024, cụ thể là 100.000.000 đồng x 1,66% x 14 tháng 08 ngày = là 23.682.667 đồng.
- Đối với số tiền 300.000.000 đồng, tính từ ngày 20/3/2023 đến ngày 23/5/2024, cụ thể là 300.000.000 đồng x 1,66% x 14 tháng 03 ngày = 70.218.000 đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000 đồng, tính từ ngày 24/4/2023 đến ngày 23/5/2024, cụ thể là 100.000.000 đồng x 1,66% x 12 tháng 29 ngày = 21.524.667 đồng.
- Đối với số tiền 400.000.000 đồng, tính từ ngày 23/5/2023 đến ngày 23/5/2024, cụ thể là 400.000.000 đồng x 1,66% x 12 tháng 00 ngày = 79.680.000 đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000 đồng, tính từ ngày 30/6/2023 đến ngày 23/5/2024, cụ thể là 100.000.000 đồng x 1,66% x 10 tháng 23 ngày = 17.872.667 đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000 đồng, tính từ ngày 15/11/2023 đến ngày 23/5/2024, cụ thể là 100.000.000 đồng x 1,66% x 06 tháng 08 ngày = 10.402.667 đồng.
- Đối với số tiền 100.000.000 đồng, tính từ ngày 15/12/2023 đến ngày 23/5/2024, cụ thể là 100.000.000 đồng x 1,66% x 05 tháng 08 ngày = 8.742.667 đồng.
Như vậy, tổng cộng số tiền lãi bà X, ông Ú có trách nhiệm liên đới trả cho bà B là 384.179.335 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi mà bà X, ông Ú có trách nhiệm liên đới trả cho bà B là 2.184.179.335 đồng.
Bà X yêu cầu bà B khấu trừ số tiền lãi bà đã trả cho bà B, cụ thể tổng cộng là 183.000.000 đồng. Bà B cũng đồng ý khấu trừ số tiền lãi này vào tổng số tiền bà X, ông Ú có trách nhiệm trả.
Như vậy, bà X, ông Ú có trách nhiệm liện đới trả cho bà B số tiền 2.184.179.335 đồng - 183.000.000 đồng = 2.001.179.335 đồng.
-
Đối với số tiền vay 1.800.000.000 đồng:
- Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết buộc bà X và ông Ú có nghĩa vụ liên đới trả cho bà B số tiền gốc và lãi 2.001.179.335 đồng là có căn cứ, xét thấy kháng cáo của bà Trần Thị X không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Xét thấy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Bà X, ông Ú phải chịu án phí theo quy định.Tuy nhiên bà X, ông Ú là người cao tuồi nên được miễn án phí theo quy định.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà X không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.Tuy nhiên bà X là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã trình bày thống nhất quá trình giao dịch như sau:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị X.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; Điều 124 BLDS, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị B đối với bị đơn bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 ngày 15/02/2023 đối với quyền sử dụng thửa đất số 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An được ký giữa bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú với bà Nguyễn Thị Bích .
- Bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 026968, số vào sổ 2204 QSDĐ/0716-LA do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 19/02/2024 cho bà Trần Thị X đối với thửa đất 662, tờ bản đồ số 5, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B đối với bị đơn bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Buộc bà Trần Thị X và ông Nguyễn Văn Ú có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền là 2.001.179.335 đồng, trong đó tiền gốc 1.800.000.000 đồng, tiền lãi 201.179.335 đồng.
-
Về nghĩa vụ chậm thi hành án:
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn cho bà Trần Thị X, ông Nguyễn Văn Ú án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng và 37.000.000 đồng theo biên lai đã nộp số 0000681, 0000680 cùng ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Miễn cho bà Trần Thị X án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 471/2024/DS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 471/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản
