Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 471/2025/HS-PT

Ngày 10 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Ngô Quang Dũng và ông Ong Thân Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Duy Khánh - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội: Ông Hà Duy T - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 369/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Lê Hoàng L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Hoàng L, sinh ngày 11/11/1999 tại Phú Thọ; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ (trước đây là xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng C và Nguyễn Thị H; có vợ Nguyễn Thị Thu H1 và 02 con: Con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2023, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh P. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Chu Văn Q - Luật sư Công ty L13 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P. (có mặt)

Trong vụ án còn có 02 bị cáo khác không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên Lê Hoàng L nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới hình thức đăng bài bán máy cơ khí lên các hội nhóm trên mạng xã hội Facebook để người mua chuyển tiền rồi chiếm đoạt tiền của họ. Để thực hiện hành vi lừa đảo, L đặt mua trên mạng 01 bộ máy uốn cơ khí A3 cũ, đã hỏng với giá 5.500.000 đồng rồi sơn lại để làm giống như máy còn mới. Sau đó, L mua thêm máy rửa xe, hóa đơn bán hàng, phiếu gửi hàng. Để tạo niềm tin cho người muốn mua hàng, L thuê xe ô tô và nhờ người khiêng máy uốn sắt lên xe ô tô rồi quay video để gửi cho khách. Lãm thuê in bạt quảng cáo với nội dung “Mua bán đồ cũ, hàng thanh lý, mua bán trao đổi máy cơ khí...” in địa chỉ cửa hàng tại A T, huyện B, thành phố Hà Nội rồi chụp lại để làm ảnh bìa trên trang Facebook. Lãm mua nhiều sim rác để sử dụng giả làm người bán hàng, người vận chuyển hàng để trao đổi đưa ra những thông tin về sản phẩm. L sử dụng 03 tài khoản ngân hàng để nhận tiền của khách hàng: Tài khoản mang tên Nguyễn Thành L1, số tài khoản 2111145678888 mở tại ngân hàng M1, tài khoản mang tên Nguyễn Hoàng T1, số tài khoản 999997280535555 mở tại ngân hàng H22 (tài khoản của anh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 2002, ở khu A, xã Đ, huyện T nhờ L lập tài khoản để vay tiền online), tài khoản mang tên Nguyễn Việt L2, số tài khoản 011920799999 mở tại ngân hàng M1 (tài khoản của anh Nguyễn Việt L2, sinh năm 1998, ở khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhờ L lập tài khoản để vay tiền online).

Để đăng bài bán hàng, Lãm chụp ảnh máy cơ khí A3, giới thiệu là “máy gần như mới, còn ngon, giá rẻ” rồi đăng lên các hội nhóm “Hội thợ cơ khí 3 miền B” “Hội T34”, “Hội cơ khí Hải Phòng”, “Hội cơ khí VIỆT NAM uy tín”, “MÁY UỐN ỐNG VÀ GIA CÔNG UỐN ỐNG 3 MIỀN”... dưới nhiều tên facebook khác nhau như “Tường Nguyễn”, “Tường An”, “Thành Long”... Lãm để địa chỉ “ảo”, số điện thoại sim “rác”. Khi có người hỏi thì L yêu cầu họ để lại số điện thoại để L liên lạc, thoả thuận giá mua bán. Để khách tin tưởng, L gửi cho khách video máy đã chuyển lên xe ô tô và giục khách chuyển tiền. Sau khi nhận được tiền, L thu hồi thông tin đã gửi cho khách rồi chặn tài khoản facebook, Z, số điện thoại để chiếm đoạt tiền. Lãm sử dụng các số điện thoại để liên lạc với khách 0329.961.xxx, 0337795134, 0397871834. Ngoài ra, L còn sử dụng nhiều số sim “rác” nữa nhưng L đã bỏ nên không nhớ số. Các tấm biển quảng cáo Lãm in và để địa chỉ A T, B, Hà Nội, sau khi chụp ảnh xong L đã đốt bỏ không còn lưu giữ.

Quá trình lừa đảo, đến tháng 11/2023, L mượn tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thành L1, sinh năm 2006, ở khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là em vợ L) để nhận tiền của khách hàng. Thời gian đầu, L1 không biết L mượn tài khoản để lừa đảo khách hàng. Đến khoảng tháng 12/2023, L1 biết việc L mượn tài khoản của L1 để nhận tiền lừa đảo nhưng khi thấy L nói “không việc gì, không tra ra được, cứ làm đi” thì L1 vẫn đồng ý cho L mượn tài khoản của mình. Sau khi nhận được tiền, L cho L1 từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng. Tổng số tiền L cho L1 là 3.350.000 đồng.

Ngoài ra, vào khoảng tháng 9/2023, L hướng dẫn cho Trần Công T2, sinh năm 1998 ở khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là em rể L) cách thức lừa đảo để chiếm đoạt tài sản. L cung cấp cho T2 tài khoản Facebook, sim điện thoại số 0328.557.xxx để giả làm người bán hàng, sim điện thoại số 0395.491.xxx để giả làm người vận chuyển hàng, tài khoản ngân hàng Nguyễn Việt L2 để T2 tự thực hiện việc lừa đảo giống với cách thức của L. Tiệp và L cùng sử dụng chung tài khoản Nguyễn Việt L2 để nhận tiền của khách hàng và thống nhất, tiền của ai lừa đảo chiếm đoạt được thì người đó sử dụng.

Với cách thức lừa đảo như trên, trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, Lê Hoàng L, Nguyễn Thành L1 đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại với hình thức mua bán máy cơ khí, cụ thể như sau:

Hành vi chiếm đoạt qua tài khoản ngân hàng Nguyễn Thành L1 của 26 người với tổng số tiền là 147.350.000 đồng, cụ thể là:

  1. Chiếm đoạt của anh Lê Mạnh H2, sinh năm 1965, trú tại huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 3.000.000 đồng.
  2. Chiếm đoạt của anh Lê Đình L3, sinh năm 1990, trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 7.200.000 đồng.
  3. Chiếm đoạt của anh Tạ Đăng K, sinh năm 1971, trú tại Xóm D, thôn A, xã Đ, huyện K, Hưng Yên số tiền 7.500.000 đồng.
  4. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Hữu G, sinh năm 1981, trú tại thôn R, C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, số tiền 6.000.000 đồng.
  5. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Công Đ, sinh năm 1989, trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 7.500.000 đồng.
  6. Chiếm đoạt của anh Bùi Trường T3, sinh năm 1993, trú tại Bản C, xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên số tiền 4.000.000 đồng.
  7. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1989, trú tại C, L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh số tiền 2.000.000 đồng.
  8. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1969, trú tại thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình số tiền 6.900.000 đồng.
  9. Chiếm đoạt của anh Dương Anh T4, sinh năm 1988, trú tại thôn V, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình số tiền 7.300.000 đồng.
  10. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Tiến Q1, sinh năm 1984, trú tại Tổ C, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai số tiền 7.500.000 đồng.
  11. Chiếm đoạt của chị Bế Thị D1, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã I, huyện I, Gia Lai số tiền 7.800.000 đồng.
  12. Chiếm đoạt của anh Phạm Văn T5, sinh năm 1977, trú tại số nhà C, tổ A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên số tiền 7.400.000 đồng.
  13. Chiếm đoạt của Nguyễn Xuân T6, sinh năm 1989, trú tại G N, tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai số tiền 7.650.000 đồng.
  14. Chiếm đoạt của anh Dương Xuân H3, sinh năm 1978, trú tại H, L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh số tiền 7.300.000 đồng.
  15. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Trọng T7, sinh năm 1985, trú tại xóm T, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An số tiền 4.000.000 đồng.
  16. Chiếm đoạt của anh Lê Quang C1, sinh năm 1981, trú tại V, C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh số tiền 6.000.000 đồng.
  17. Chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T8, sinh năm 1989, trú tại Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 7.500.000 đồng.
  18. Chiếm đoạt của anh Lê Tuấn A, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang số tiền 3.500.000 đồng.
  19. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Xuân T9, sinh năm 1984, trú tại Khu E, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 4.000.000 đồng.
  20. Chiếm đoạt của anh Tẩn Lở K2, sinh năm 1990, trú tại thôn S, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai số tiền 7.000.000 đồng.
  21. Chiếm đoạt của anh Trần Minh H4, sinh năm 1982, trú tại K, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước số tiền 2.500.000 đồng.
  22. Chiếm đoạt của anh Phạm Hoàng N, sinh năm 1989, trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang số tiền 2.300.000 đồng.
  23. Chiếm đoạt của anh Bùi Duy T10, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình số tiền 5.500.000 đồng.
  24. Chiếm đoạt của anh Cao Văn S, sinh năm 1977, trú tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình số tiền 2.000.000 đồng.
  25. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Hoàng L4, sinh năm 1991, trú tại thôn X, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình số tiền 7.000.000 đồng.
  26. Chiếm đoạt của anh Ngô H5, sinh năm 1988, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An số tiền 7.000.000 đồng.

Hành vi chiếm đoạt qua tài khoản ngân hàng Nguyễn Hoàng T1 của 34 người với tổng số tiền 200.000.000 đồng, cụ thể như sau:

  1. Chiếm đoạt của anh Vũ Đình T11, sinh năm 1986, trú tại thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình số tiền 6.500.000 đồng.
  2. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang số tiền 7.700.000 đồng.
  3. Chiếm đoạt của anh Mai Văn P, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên số tiền 12.700.000 đồng.
  4. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Như V, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 6.000.000 đồng.
  5. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1983, trú tại thôn Ô, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình số tiền 7.500.000 đồng.
  6. Chiếm đoạt của chị Lê N1, sinh năm 1985, trú tại số F đường V, H, C, thành phố Đà Nẵng số tiền 6.500.000 đồng.
  7. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn T12, sinh năm 1972, trú tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn số tiền 7.500.000 đồng.
  8. Chiếm đoạt của anh Dương Văn L5, sinh năm 1983, trú tại T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc số tiền 2.500.000 đồng.
  9. Chiếm đoạt của anh Lê Văn L6, sinh năm1979, trú tại thôn E, xã T, huyện T, Thanh Hóa số tiền 7.200.000 đồng.
  10. Chiếm đoạt của anh Đặng Duy T13, sinh năm 1994, trú tại thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi số tiền 7.400.000 đồng.
  11. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Minh T14, sinh năm 1961, trú tại phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên số tiền 7.000.000 đồng.
  12. Chiếm đoạt của anh Trần Tiến L7, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã Q, huyện K, Thái Bình số tiền 7.200.000 đồng.
  13. Chiếm đoạt của anh Nông Văn S1, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn số tiền 6.800.000 đồng.
  14. Chiếm đoạt anh Đặng Trọng T15, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Lào Ca số tiền 1.000.000 đồng.
  15. Chiếm đoạt của anh Đào Văn K3, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, V, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 7.000.000 đồng.
  16. Chiếm đoạt của anh Dương Văn V1, sinh năm 1991, trú tại thôn C, L, huyện L, Bắc Giang số tiền 3.000.000 đồng.
  17. Chiếm đoạt của anh Phạm Văn T16, sinh năm 1985, trú tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương số tiền 1.000.000 đồng.
  18. Chiếm đoạt của anh Ngô Xuân Đ1, sinh năm 1985, trú tại thôn N, Bình Định, huyện L, tỉnh Bắc Ninh số tiền 7.100.000 đồng.
  19. Chiếm đoạt của anh Trịnh Văn H6, sinh năm 1979, trú tại Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên số tiền 3.500.000 đồng.
  20. Chiếm đoạt của anh Trương Văn H7, sinh năm 1990, trú tại TDP B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 7.000.000 đồng.
  21. Chiếm đoạt của anh Đặng Đình T17, sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên số tiền 7.100.000 đồng.
  22. Chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1991, trú tại Số B, tổ A, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang số tiền 6.600.000 đồng.
  23. Chiếm đoạt của anh Phạm Quốc V2, sinh năm 1986, trú tại Thôn B, C, huyện T, tỉnh Hải Dương số tiền 3.500.000 đồng.
  24. Chiếm đoạt của anh Trần Văn H8, sinh năm 1986, trú tại thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang số tiền 5.000.000 đồng.
  25. Chiếm đoạt của anh Trần Văn T18, sinh năm 1994, trú tại Đ, A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên số tiền 7.000.000 đồng.
  26. Chiếm đoạt của anh Đoàn Văn K4, sinh năm 1975, trú tại Ấp S, xã K, T, tỉnh Cà Mau số tiền 3.000.000 đồng.
  27. Chiếm đoạt của anh Hoàng Văn T19, sinh năm 1985, trú tại thôn D, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội số tiền 6.800.000 đồng.
  28. Chiếm đoạt của anh Ngô Văn Đ2, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội số tiền 6.700.000 đồng.
  29. Chiếm đoạt của anh Lưu Văn H9, sinh năm1974, trú tại thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội số tiền 3.000.000 đồng.
  30. Chiếm đoạt của anh Văn Xuân T20, sinh năm 1983, ở Đ V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội số tiền 5.700.000 đồng.
  31. Chiếm đoạt của anh Trương Trọng N2, sinh năm 1985, trú tại Lô E, khu đô thị H, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 6.500.000 đồng.
  32. Chiếm đoạt của anh Phan Việt A1, sinh năm 1999, trú tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 7.200.000 đồng.
  33. Chiếm đoạt của anh Hoàng Đức K5, sinh năm 1960, trú tại T, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La số tiền 7.500.000 đồng.
  34. Chiếm đoạt của Hoàng Đức Đ3, sinh năm 1996, trú tại thôn N, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh số tiền 2.300.000 đồng.

Hành vi chiếm đoạt qua tài khoản ngân hàng Nguyễn Việt L2 của 22 người với tổng số tiền là 119.200.000 đồng, cụ thể như sau:

  1. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn L8, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên số tiền 3.000.000 đồng.
  2. Chiếm đoạt của anh Chu Văn K6, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội số tiền 2.000.000 đồng.
  3. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn C2 sinh năm 1986, trú tại thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An số tiền 6.000.000 đồng.
  4. Chiếm đoạt của chị Phạm Thị T21, sinh năm 1988, trú tại thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái số tiền 3.000.000 đồng.
  5. Chiếm đoạt của anh Võ L9, sinh năm 1984, trú tại thôn Q, xã L, huyện P, tỉnh Bình Thuận số tiền 6.800.000 đồng.
  6. Chiếm đoạt của anh Bùi Quang H10, sinh năm 1985, trú tại thôn D, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội số tiền là 7.200.000 đồng.
  7. Chiếm đoạt của anh Phạm Văn H11, sinh năm 1981, trú tại xóm T, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định số tiền 5.600.000 đồng.
  8. Chiếm đoạt của anh Phạm Ngọc S2, sinh năm 1979, trú tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên số tiền 3.000.000 đồng.
  9. Chiếm đoạt của anh Phan Văn D2, sinh năm 1989, trú tại K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An số tiền 7.000.000 đồng.
  10. Chiếm đoạt của anh Dương Hữu T22, sinh năm 1985, trú tại thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận số tiền 7.100.000 đồng.
  11. Chiếm đoạt của anh Lê Trọng N3, sinh năm 1983, trú tại Số B đường T, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 7.200.000 đồng.
  12. Chiếm đoạt của anh Dương Văn H12, sinh năm 1992, trú tại thôn H, B, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 6.000.000 đồng.
  13. Chiếm đoạt của anh Cẩm Bá N4, sinh năm 1989, trú tại khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 7.000.000 đồng.
  14. Chiếm đoạt của anh Trần Văn T23, sinh năm 1983, trú tại Tổ G, KP5, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai số tiền 3.000.000 đồng.
  15. Chiếm đoạt của anh Hà Huy T24, sinh năm 1976, trú tại khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 5.000.000 đồng.
  16. Chiếm đoạt của anh La Quang T25, sinh năm 1981, trú tại Số B, khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn số tiền 7.200.000 đồng.
  17. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Đức K7, sinh năm 1979, trú tại xóm T, Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh số tiền 6.900.000 đồng.
  18. Chiếm đoạt của anh Dương Văn H13, sinh năm 1985, trú tại KDC Đ, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương số tiền 7.200.000 đồng.
  19. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Thế A2, sinh năm 1987, trú tại thôn L, xã C, huyện Â, tỉnh Hưng Yên số tiền 7.000.000 đồng.
  20. Chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H14, sinh năm 1993, trú tại TDP P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai số tiền 2.800.000 đồng.
  21. Chiếm đoạt của anh Trịnh Văn T26, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng số tiền 7.200.000 đồng.
  22. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn S3, sinh năm 1988, trú tại thôn Y, xã C, huyện C, tỉnh Hà tĩnh số tiền 2.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023, Trần Công T2 đã lừa đảo chiếm đoạt qua tài khoản ngân hàng Nguyễn Việt L2 của 32 người tổng số tiền là 144.450.000 đồng, cụ thể như sau:

  1. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn H15, sinh năm 1986, trú tại xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định số tiền 7.150.000 đồng.
  2. Chiếm đoạt của anh Trần Đức T27, sinh năm 1990, trú tại Số nhà A, đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng số tiền 6.200.000 đồng.
  3. Chiếm đoạt của anh Phan Tấn T28, sinh năm 1989, trú tại 268C, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre số tiền 5.200.000 đồng.
  4. Chiếm đoạt của anh Chu Văn L10, sinh năm 1984, trú tại thôn Y, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội số tiền 2.500.000 đồng.
  5. Chiếm đoạt của anh Hoàng Thạch T29, sinh năm 1984, trú tại Khu A, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ số tiền 3.000.000 đồng.
  6. Chiếm đoạt của anh Thái Đình C3, sinh năm 1987, trú tại Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 1.000.000 đồng.
  7. Chiếm đoạt của anh Thạch Ngọc Duy L11, sinh năm 1990, trú tại Ấp C, xã H, huyện T, tình T số tiền 1.000.000 đồng.
  8. Chiếm đoạt của anh Đồng Văn H16, sinh năm 1986, trú tại Xóm X, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên số tiền 7.000.000 đồng.
  9. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Hữu V3, sinh năm 1994, trú tại thôn D, xã H, C, Gia Lai số tiền 7.000.000 đồng.
  10. Chiếm đoạt của anh Phùng Văn H17, sinh năm 1993, trú tại thôn Q, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội số tiền 3.500.000 đồng.
  11. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn T30, sinh năm 1990, trú tại V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên số tiền 6.800.000 đồng.
  12. Chiếm đoạt của anh Đỗ Văn Đ4, sinh năm 1990, trú tại thôn V, xã Y, Ý, Nam Định số tiền 3.000.000 đồng.
  13. Chiếm đoạt của anh Bùi Văn D3, sinh năm 1984, trú tại Xóm O, C, L số tiền 3.000.000 đồng.
  14. Chiếm đoạt của chị Đặng Thị Ngọc T31, sinh năm 1998, trú tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An số tiền 3.000.000 đồng.
  15. Chiếm đoạt của anh Phan Văn S4, sinh năm 1983, trú tại xóm D, xã H, H, Nghệ An số tiền 1.00.0.000 đồng
  16. Chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 2000, trú tại L, Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh số tiền 1.400.000 đồng.
  17. Chiếm đoạt của anh Trịnh Duy C4, sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 7.000.000 đồng.
  18. Chiếm đoạt của anh Dương Công K8, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình số tiền 7.200.000 đồng.
  19. Chiếm đoạt của anh Lưu Văn L12, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang số tiền 6.000.000 đồng.
  20. Chiếm đoạt của anh Võ Văn H18, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, L, Lâm Đồng số tiền 6.000.000 đồng.
  21. Chiếm đoạt của anh Phạm Lê V4, sinh năm 1967, trú tại Thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định số tiền 2.000.000 đồng.
  22. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Ngọc H19, sinh năm 1991, trú tại Ấp G, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh số tiền 5.500.000 đồng.
  23. Chiếm đoạt của anh Vũ Văn Á, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên số tiền 3.000.000 đồng.
  24. Chiếm đoạt của anh Ngô Hữu T32, sinh năm 1984, trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc số tiền 7.000.000 đồng.
  25. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Vương C5, sinh năm 1985, trú tại Thôn D, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội số tiền 3.500.000 đồng.
  26. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn T33, sinh năm 1988, trú tại Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương số tiền 3.000.000 đồng.
  27. Chiếm đoạt của anh Đặng Văn K9, sinh năm 1978, trú tại Thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc số tiền 6.500.000 đồng.
  28. Chiếm đoạt của anh Trần Xuân H20, sinh năm 1989, trú tại Thôn L, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương số tiền 5.000.000 đồng.
  29. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Mậu D4, sinh năm 1986, trú tại TDP A, thị trấn N, T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 3.500.000 đồng.
  30. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Thuận H21, sinh năm 1985, trú tại 130/16 KP3, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 7.000.000 đồng.
  31. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1980, trú tại A khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang số tiền 7.000.000 đồng.
  32. Chiếm đoạt của anh Hoàng Văn Đ5, sinh năm 1983, trú tại thôn D, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên số tiền 3.500.000 đồng.

Như vậy, quá trình điều tra xác định: Lê Hoàng L trực tiếp thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của 82 người, với tổng số tiền là 466.550.000 đồng. Trần Công T2 trực tiếp thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của 32 người, với tổng số tiền là 144.450.000 đồng. Trong đó, xác định L là người hướng dẫn, cung cấp công cụ, phương tiện để T2 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, Lê Hoàng L phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền mà L và T2 thực hiện hành vi phạm tội là 611.000.000 đồng.

Nguyễn Thành L1 phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền mà L đã trực tiếp thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” qua tài khoản ngân hàng của L1 là 147.350.000 đồng.

Đối với các trường hợp Cơ quan điều tra ủy thác điều tra, đến nay không có kết quả, quá trình điều tra, xác định: Ngoài việc lừa đảo nêu trên, L còn làm nghề bán hàng nước, nên có các giao dịch mua, bán hàng, sinh hoạt hàng ngày của Lãm nên không có căn cứ xác định số tiền còn lại là số tiền do L lừa đảo mà có.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng L 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/12/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác; quyết định về trách nhiệm bồi thường dân sự, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 21/01/2025, bị cáo Lê Hoàng L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, giảm cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù; đồng thời đề nghị áp dụng thêm Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo là người dân tộc thiểu số; sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường cho các bị hại; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tiếp tục tác động đến gia đình tự nguyện nộp số tiền là 250.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại; ngoài ra, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, dưới khung hình phạt. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với lời bào chữa của Luật sư và xin được giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của các bị cáo khác trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các sao kê tài khoản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định: Do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 12/2023, bị cáo Lê Hoàng L đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hình thức đăng bài bán máy cơ khí lên các hội nhóm trên mạng xã hội Facebook, để người mua chuyển tiền rồi chiếm đoạt tiền của họ.

Để thực hiện hành vi lừa đảo, bị cáo L đặt mua 01 bộ máy uốn cơ khí A3 cũ, đã hỏng rồi sơn lại để làm giống như máy còn mới; mua máy rửa xe, hóa đơn bán hàng, phiếu gửi hàng; thuê xe ô tô và nhờ người khiêng máy uốn sắt lên xe ô tô rồi quay video để gửi cho khách; thuê in bạt quảng cáo; sử dụng nhiều sim rác để giả làm người bán hàng, người vận chuyển hàng; sử dụng 03 tài khoản ngân hàng để nhận tiền của khách hàng; chụp ảnh máy cơ khí A3, giới thiệu là “máy gần như mới, còn ngon, giá rẻ” rồi đăng lên các hội nhóm “Hội thợ cơ khí 3 miền B” “Hội T34”, “Hội cơ khí Hải Phòng”, “Hội cơ khí VIỆT NAM uy tín”, “MÁY UỐN ỐNG VÀ GIA CÔNG UỐN ỐNG 3 MIỀN”... dưới nhiều tên facebook khác nhau như “Tường Nguyễn”, “Tường An”, “Thành Long”... để địa chỉ “ảo”, số điện thoại sim “rác”... Sau khi khách đồng ý mua hàng, chuyển tiền cho bị cáo L thì L thu hồi thông tin đã gửi cho khách rồi chặn tài khoản facebook, Z, số điện thoại để chiếm đoạt tiền của khách hàng.

Quá trình thực hiện hành vi, đến tháng 11/2023, bị cáo L mượn tài khoản ngân hàng của bị cáo Nguyễn Thành L1 để nhận tiền của khách hàng. Thời gian đầu bị cáo L1 không biết bị cáo L mượn tài khoản của bị cáo L1 để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng tháng 12/2023, L1 biết việc bị cáo L mượn tài khoản của L1 để nhận tiền lừa đảo nhưng khi thấy bị cáo L nói “không sao đâu, cứ làm đi” thì L1 vẫn đồng ý cho bị cáo L mượn tài khoản của mình. Sau khi nhận được tiền, bị cáo L cho L1 từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo L cho bị cáo L1 do lừa đảo mà có là 3.350.000 đồng.

Khoảng tháng 9/2023, bị cáo L hướng dẫn cho bị cáo T2 cách thức, cung cấp cho T2 tài khoản Facebook, sim điện thoại để giả làm người bán hàng, sim điện thoại để giả làm người vận chuyển hàng, tài khoản ngân hàng Nguyễn Việt L2 để T2 trực tiếp thực hiện việc lừa đảo giống với cách thức của bị cáo L. Tiệp và L cùng sử dụng chung tài khoản Nguyễn Việt L2 để nhận tiền của khách hàng và thống nhất, tiền của ai lừa đảo chiếm đoạt được thì người đó sử dụng.

Do đó, có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Lê Hoàng L là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ, phương tiện, trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 82 người, với tổng số tiền là 466.550.000 đồng. Bị cáo Trần Công T2 trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 32 người, với tổng số tiền là 144.450.000 đồng. Bị cáo Lê Hoàng L là người hướng dẫn, cung cấp công cụ, phương tiện để bị cáo T2 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, bị cáo Lê Hoàng L phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền mà L và T2 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 611.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội mà bị cáo Lê Hoàng L đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của nhiều bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đưa ra các thông tin gian dối, không đúng sự thật để các bị hại tin tưởng, giao tiền cho bị cáo là hành vi bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện rất nhiều lần, đối với nhiều người nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Hoàng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng ở lần phạm tội này, bị cáo đã chiếm đoạt tiền của nhiều người và còn rủ bị cáo L1 là người chưa thành niên phạm tội nên bị cáo phải chịu 02 tình tiết tăng nặng đó là “phạm tội 02 lần trở lên” và “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại các điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số, quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường cho các bị hại được một phần thiệt hại; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tiếp tục tác động đến gia đình tự nguyện nộp số tiền 250.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại; ngoài ra, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên bị cáo L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2.3] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đối với bị cáo L trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội và của người bào chữa, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, giúp bị cáo yên tâm tích cực cải tạo, rèn luyện, để sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[2.4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[2.5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Hoàng L.

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 17, Điều 58; các điểm g, o khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng L 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/12/2023.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Hoàng L không phải chịu.

    Xác nhận bị cáo Lê Hoàng L đã nộp tiếp số tiền 250.000.000 đồng theo các Biên lai thu tiền số 0000843 ngày 02/4/2025 và số 0001044 ngày 20/5/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ (khoản tiền này sẽ được đối trừ khi thi hành án).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VCT&KSXXPT tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại TG số 01 CA T Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Thanh Sơn, T Phú Thọ;
  • - Bị cáo (qua Trại TG);
  • - Lưu HSVA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 471/2025/HS-PT ngày 10/11/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 471/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng L lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger