|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 471/2024/DS-PT
Ngày: 29-7-2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Các Thẩm phán: | Ông Mai Tiến Dũng |
| Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Vĩnh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2024/TLPT - DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 315/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1970; Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970; Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959; Có mặt.
- Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1974; Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Ông Nguyễn Tràng C, sinh năm 1982. Địa chỉ liên hệ: Đội 11, thôn S, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngay 23/7/2024. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ngõ G, đường G, thôn T, xã L, huyện T, Hà Nội.
HKTT: Tổ dân phố E, Bằng B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện tại: Số nhà B, ngách A đường P, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Nguyễn Văn P, sinh năm 1935; Xin vắng mặt.
- Cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1938; Xin vắng mặt.
- Cùng địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1973 (vợ ông M); Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 2004 (con ông M); Có mặt.
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984; Có mặt.
- Chị Tống Thị T1, sinh năm 1988; Có mặt.
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1999 (con bà T). Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội.
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ngõ G, đường G, thôn T, xã L, huyện T, Hà Nội.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, Hà Nội.
Người làm chứng: Cụ Nguyễn Văn T2, sinh năm 1943;
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng Q trình bày:
Thửa đất số 65(2), tờ bản đồ số 04 diện tích 105m² tại xã L, huyện T, Hà Nội đứng tên cụ Nguyễn văn P1 (bố của ông Q) và thửa đất số 57 cùng tờ bản đồ số 04 đứng tên cụ Nguyễn Văn N (bố của các bị đơn) đều có nguồn gốc do cha ông để lại (cụ P1 và cụ N là anh em ruột). Cụ N và cụ P1 sử dụng đoạn ngõ đi rộng khoảng 2m nằm giữa hai thửa đất để đi ra ngõ xóm.
Gia đình cụ P1 đã nhiều lần nhận chuyển nhượng các đất ao của các hộ liền kề và nhập chung với thửa đất do bố mẹ để lại thành thửa đất số 43, diện tích 1306m² (bản đồ địa chính đo đạc theo chỉ thị 299/TTg). Ngõ đi của thửa đất số 43 gồm 01 lối đi giáp đường liên thôn do cụ P1 tự lấp ao, mở lối đi và 01 lối đi giáp ngõ xóm (đoạn ngõ đi có diện tích 25m² đang có tranh chấp).
Theo bản đồ năm 1994, thửa đất của gia đình cụ P1 thuộc thửa 65, diện tích 1402m² và thửa đất của gia đình cụ N thuộc thửa 57 diện tích 365m², cùng tờ bản đồ số 04. Năm 2005, gia đình cụ P1 chia tách thửa đất số 65 diện tích 1402m² cho các con, theo đó cụ P1 phân chia cho các con phần đất đã nhận chuyển nhượng trước đây, sử dụng ngõ đi giáp đường liên thôn và đoạn ngõ đi 90m² được cắt ra từ thửa 65 để đảm bảo lối đi cho các thửa đất bên trong. Riêng thửa 65(2) diện tích 105m² là tài sản do cha ông để lại, cụ P1 đứng tên kê khai và sử dụng đoạn ngõ đi truyền thống của gia đình ở phía bắc thửa đất giáp ngõ xóm. Sau đó, cụ P1 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích 105m² đất tại thửa 65(2), tờ bản đồ số 04 nêu trên, không có bất kỳ tranh chấp nào của các hộ liền kề và của gia đình cụ N. Năm 2008, cụ Phong tặng cho thửa đất số 65(2), tờ bản đồ số 04 cho ông Q và ông Q đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa 65(2). Ông Q vẫn trực tiếp cùng gia đình cụ N sử dụng đoạn ngõ đi 25m² để đi ra ngõ xóm, đóng góp chi phí cải tạo ngõ đi. Hiện trạng gia đình nguyên đơn vẫn mở cổng ra đoạn ngõ đi này để đi ra ngõ xóm.
Năm 2006, cụ N kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất số 57 tờ bản đồ số 04, đã gộp 25m² ngõ đi chung vào thửa 57. Năm 2011- 2012, thửa đất của cụ N được chia tách thành 3 thửa cho anh Ngọc A (cháu trai trưởng của cụ N), ông Nguyễn Văn M (con trai cụ N) và bà Nguyễn Thị T (con gái cụ N). Sau đó, ông M bán bán một phần đất được chia cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Đ và chị Tống Thị T1. Các chủ sử dụng thửa đất số 57 và ông Q vẫn sử dụng đoạn ngõ đi 25m² mà không có bất kỳ tranh chấp gì.
Tuy nhiên, đến năm 2023, ông Q cho thuê một phần thửa đất số 65(2) và có ý định chuyển nhượng một phần thửa đất thì anh Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn văn M1 ngăn cản, dựng cổng sắt không cho ông Q đi qua đoạn ngõ đi chung này với lý do đoạn ngõ đi chung này nằm trong thửa đất số 57 tờ bản đồ số 04 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ N (được sang tên cho anh Ngọc A, ông M1 và bà T). Ông Q đã có đơn gửi UBND xã L giải quyết nhưng không đạt được kết quả. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết :
- Xác định đoạn ngõ đi dài 12,5m từ vị trí hậu tường nhà do anh Nguyễn Ngọc A đang quản lý đến hậu tường nhà ở của gia đình ông T2, chiều rộng 02m tính từ thửa đất 65(2) của ông Q, diện tích 25m² là ngõ đi chung của thửa đất số 65(2) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Hồng Q và thửa số 57 cùng tờ bản đồ số 04, xã L, huyện T, Hà Nội đứng tên chủ sử dụng là cụ Nguyễn Văn N (nay được thừa kế cho các con, cháu là Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn M ).
- Yêu cầu các chủ sử dụng thửa đất số 57 gồm anh Nguyễn Ngọc A, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn M chấm dứt hành vi cản trở nguyên đơn sử dụng đoạn ngõ đi chung nêu trên.
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn là ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Ngọc A thống nhất trình bày:
Các ông bà xác nhận thửa đất của gia đình nguyên đơn và thửa đất của gia đình bị đơn đang quản lý sử dụng đều có nguồn gốc do cha ông để lại. Cụ Nguyễn Văn N (bố của các bị đơn) và cụ Nguyễn Văn P (bố của nguyên đơn) là anh em cùng cha khác mẹ. Thửa đất của gia đình cụ P giáp đường liên thôn nên gia đình cụ P sử dụng ngõ đi ở phía Đông thửa đất, thửa đất của gia đình cụ N chỉ có 01 lối đi duy nhất là đoạn ngõ đi diện tích 25m² (đang có tranh chấp) để đi ra ngõ xóm. Gia đình cụ P chưa bao giờ sử dụng đoạn ngõ đi này để đi ra ngõ xóm.
Năm 2006, cụ N đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất số 57, tờ bản đồ số 04, đã tách 25m² đất giáp với thửa đất của cụ P để làm ngõ đi chung cho các con cháu cụ N và đoạn ngõ đi này nằm trong thửa đất số 57 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ N, không có bất kỳ tranh chấp nào của cụ P hoặc ông Q.
Năm 2011 - 2012, cụ N tặng cho QSD đất cho các con cháu, trong đó anh Ngọc A (cháu trưởng) được tặng cho thửa 57(1) diện tích 108m² giáp đoạn ngõ đi chung 25m² (đang có tranh chấp) trên đất có nhà thờ đã tồn tại hơn 100 năm; bà T được tặng cho thửa 57(3) diện tích 41m² và ông M được tặng cho thửa 57(2) diện tích 104,9m² (sau này ông M chuyển nhượng lại cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Đ, chị Tống Thị T1 44,7m²). Diện tích còn lại 111,1m² (bao gồm các đoạn 25m² + 34,6m² + 18,5m² là ngõ đi chung), ngày 23/7/2013 cụ N lập di chúc cho anh Ngọc A. Như vậy, đoạn ngõ đi 25m² đang có tranh chấp là ngõ đi riêng của thửa 57, tờ bản đồ số 04.
Bị đơn xác nhận, trên thửa đất số 65(2) của gia đình cụ P có 01 cửa ngách đi ra đoạn ngõ đi có tranh chấp để thuận tiện cho anh em con cháu đi lại đến nhà thờ họ vào những ngày lễ tết chứ không có ý nghĩa đoạn ngõ đi này là ngõ đi chung của thửa đất của cụ N và cụ P (nay đã tặng cho ông Q). Bị đơn không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Nguyễn Văn P và cụ Nguyễn Thị D trình bày:
Cụ P và cụ N là anh em cùng cha khác mẹ, được cha ông để lại thửa đất số 57 cho cụ N và để lại thửa 65(2) cho cụ P. Lối đi duy nhất đi từ thửa đất của cụ P và cụ N để đi ra ngõ xóm là đoạn ngõ đi 25m² đang có tranh chấp. Gia đình cụ P, cụ D đã nhiều lần mua các thửa đất ao ở liền kề thửa đất do cha ông để lại và đã tự lấp ao, mở lối đi giáp đường liên thôn nên thửa đất của gia đình cụ P, cụ D có 02 lối đi gồm 01 lối đi do cha ông để lại đi chung với thửa đất của cụ N (lối đi giáp ngõ xóm) và 01 lối đi giáp đường liên thôn. Năm 2005, cụ P, cụ D tiến hành đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất số 65, diện tích 1402m² (bao gồm diện tích đất được cha ông để lại và diện tích đất vợ chồng cụ P nhận chuyển nhượng thêm), đồng thời chia tách cho các con thì được UBND xã L hướng dẫn lập biên bản chia đất. Do đất cha ông để lại nên cụ P, cụ D bớt lại thửa 65(2) diện tích 105m² đứng tên cụ P, cụ D và sử dụng đoạn ngõ đi chung với thửa đất của cụ N. Cụ P, cụ D vẫn trổ cổng để đi ra đoạn ngõ đi có tranh chấp. Phần diện tích đất còn lại, cụ P chia cho các con và mở ngõ đi tách từ diện tích đất của gia đình để đi ra đường liên thôn. Gia đình cụ P, cụ N vẫn sử dụng đoạn ngõ đi này, không có bất kỳ tranh chấp nào. Năm 2008, cụ P, cụ D tặng cho ông Q toàn bộ thửa 65(2) và ông Q đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất này. Tuy nhiên, cụ P và cụ D vẫn trực tiếp sinh sống trên thửa đất số 65(2) tờ bản đồ số 04 cho đến nay.
Đến năm 2023, gia đình cụ P cho thuê một phần thửa đất số 65(2) và có ý định bán một phần thửa đất để lấy chi phí điều trị bệnh cho cụ P thì các con cháu cụ N dựng cửa sắt không cho gia đình cụ P đi ra đoạn ngõ đi 25m² nêu trên. Vì vậy, ông Q đã khởi kiện tại Tòa án yêu cầu xác định đoạn ngõ đi dài 12,5m tính từ vị trí hậu tường nhà ở của gia đình cụ N (nay do ông Ngọc A quản lý sử dụng) đến hậu tường nhà ở của gia đình cụ T2 là ngõ đi chung của thửa đất số 57 và thửa đất 65(2), cụ P, cụ D đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có lời khai xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- Bà Trần Thị H và chị Nguyễn Thị Thu H1 (vợ, con ông M) trình bày:
Bà H và chị H1 xác nhận lời khai của ông M về nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng thửa đất số 57, tờ bản đồ số 04 năm 1994 xã L, T, Hà Nội cũng như việc sử dụng ngõ đi nguyên đơn đang tranh chấp. Bà H và chị H1 khẳng định, diện tích 25m² đất có hiện trạng là ngõ đi từ vị trí hậu tường nhà thờ do anh Ngọc A đang sử dụng đến hậu tường nhà ở của gia đình ông T2 nằm trong thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ Nguyễn Văn N là ngõ đi riêng của gia đình cụ N không phải là ngõ đi chung với thửa đất của gia đình cụ P. Bà H, chị H1 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Văn Đ và chị Tống Thị T1 trình bày:
Năm 2014, vợ chồng anh Đ, chị Thu nhận chuyển nhượng QSD 44,7m² đất của ông Nguyễn Văn M (con trai cụ N) và anh Đ, chị T1 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng, trong đó đoạn ngõ đi có diện tích 25m² (đang có tranh chấp) là ngõ đi chung của các thửa đất được chia tách từ thửa số 57, tờ bản đồ số 04 Thôn T, xã L. Hiện nay, vợ chồng anh Đ, chị T1 vẫn sử dụng đoạn ngõ đi này để đi ra ngõ xóm. Anh Đ, chị T1 đề nghị tòa án giải quyết tranh chấp của các bên theo quy định của pháp luật và có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Văn H2 (con trai bà T) thống nhất lời khai với các bị đơn, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên lời khai và quan điểm như đã trình bày nêu trên.
- - Những người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh Ngọc A trình bày: Diện tích 25m² đất nằm trong thửa đất số 57, tờ bản đồ số 04 thôn T, xã L, T, Hà Nội đã được cụ Nguyễn Văn N đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận, có chữ ký của chủ sử dụng liền kề là cụ Nguyễn Văn P nên có cơ sở xác định diện tích 25m² đất đang có tranh chấp là ngõ đi riêng của gia đình cụ N. Nguyên đơn không xuất trình được bất kỳ tài liệu chứng cứ gì chứng minh được quyền sử dụng đoạn ngõ đi này. Những người làm chứng do bị đơn yêu cầu triệu tập và các xác nhận của những người dân trong xóm do bị đơn xuất trình tại phiên tòa đều xác nhận chỉ có gia đình cụ N sử dụng đoạn ngõ đi 25m² đang có tranh chấp, gia đình cụ P, ông Q sử dụng ngõ đi giáp đường liên thôn. Việc gia đình ông Q tham gia đóng góp chi phí tôn tạo ngõ xóm không bao gồm đoạn ngõ đi của gia đình bị đơn. Hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất của cụ N đã xác định rất rõ “gia đình cắt 25m² để làm ngõ đi chung của thửa đất”. Các lần cho tặng cho, thừa kế QSD đất cho các con cháu, gia đình cụ N đều phải tạo lối đi cho các thửa đất bên trong – phù hợp với quy định của Điều 254 Bộ luật dân sự và các giấy chứng nhận QSD đất được cấp cho các chủ sử dụng thửa đất 57 đều thể hiện ngõ đi dẫn vào thửa đất của mình. Gia đình cụ P chia tách thửa 65 cho các con cháu, cũng đã cắt 90m² để đi vào các thửa đất bên trong nhưng lại không tạo lối đi cho thửa 65(2) là không hợp lý nên dẫn đến yêu cầu sử dụng lối đi với gia đình bị đơn. Giai đoạn hòa giải tại UBND xã L, ông Q thể hiện quan điểm tự nguyện hỗ trợ tiền cho gia đình bị đơn đã chứng minh ông Q không có quyền sử dụng đoạn ngõ đi này. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa điều khiển phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.
- + Về nội dung: Các đương sự đều xác nhận nguồn gốc thửa đất của gia đình nguyên đơn và gia đình bị đơn đều do cha ông để lại, bản đồ địa chính năm 1986 thể hiện đoạn ngõ đi đang tranh chấp là ngõ xóm thuộc UBND xã quản lý. Hồ sơ chia tách đất của gia đình nguyên đơn thể hiện ranh giới phía Bắc thửa 65(2) giáp ngõ xóm. Quá trình quản lý sử dụng ngõ đi, nguyên đơn cùng gia đình bị đơn đóng góp chi phí tôn tạo ngõ xóm từ vị trí nhà ông T3 (cách đoạn ngõ đi đang tranh chấp 4 -5 nhà) đến hậu tường nhà ông T2 và xác nhận của chính quyền địa phương về việc xây dựng ngõ đi theo chương trình nông thôn mới. Người làm chứng là cụ Nguyễn Văn T2, cũng là anh trai của cụ N, cụ P xác nhận từ trước thời điểm cụ N kê khai và được cấp giấy chứng nhận QSD đất, gia đình cụ N, cụ P và cụ T2 vẫn cùng nhau sử dụng đoạn ngõ đi này.
- → Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định đoạn ngõ đi đang tranh chấp là ngõ đi chung. Bị đơn tự dỡ bỏ tài sản trên ngõ đi để đảm bảo quyền sử dụng ngõ đi chung của nguyên đơn. Ông M và ông Ngọc A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; miễn án phí cho bà T do thuộc đối tượng người cao tuổi.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng Q đối với ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T:
- - Xác định diện tích 25m² đất (rộng 2m, dài 12,5m) trong thửa 57(1), tờ bản đồ số 04 đứng tên chủ sử dụng anh Nguyễn Ngọc A là ngõ đi chung của các thửa đất số 65(2) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Hồng Q; thửa đất số 57(1) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Ngọc A, thửa 57(2) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Văn M và thửa 57(3) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Thị T và thửa 57(4) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Văn Đ, Tống Thị T1 cùng tờ bản đồ số 04 năm 1994, xã L, huyện T, Hà Nội.
- - Ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ dỡ bỏ cánh cổng sắt trên đoạn ngõ đi chung để đảm bảo việc sử dụng ngõ đi chung.
- Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đăng ký biến động đối với các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp về quyền sử dụng ngõ đi chung nêu trên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền Thi hành án.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, các bị đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc A kháng cáo toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trì với lý do Hội đồng xét xử đã tuyên án không dựa trên những chứng cứ của vụ án thể hiện trong hồ sơ và qua việc tranh tụng tại phiên toà; Việc xem xét đánh giá chứng cứ không toàn diện, thiếu khách quan, vô tư: Toàn bộ chứng cứ thật có giá trị pháp lý cao (gần 10 loại) của bị đơn bị bác bỏ như Giấy chứng nhận QSD đất, bản đồ địa chính, Biên lai nộp thuế, xác nhận của UBND xã, xác nhận của hơn 30 hộ dân là ông bà cô chú bác trong họ tộc và hàng xóm xung quanh... Nhưng tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện cực kỳ vô lý và hoàn toàn không có cơ sở của nguyên đơn là thiếu công bằng, không hợp tình, hợp lý và thiên vị nguyên đơn đã xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Trong quá trình xét xử, HĐXX đã không khách quan, bỏ qua nhiều hồ sơ, tài liệu quan trọng, dẫn đến phán quyết thiếu căn cứ, không đúng luật xâm phạm trực tiếp đến quyền sử dụng đất nhiều đời của bị đơn và yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; người làm chứng cụ Nguyễn Văn T2 trình bày: ngõ đang tranh chấp đã tồn tại hàng trăm năm nay, các anh em trong gia đình cụ T2, cụ P và cụ N đều sử dụng đoạn ngõ này để đi ra ngõ xóm, chỉ sau khi cụ N kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất, đoạn ngõ đi này nằm trong thửa đất của gia đình cụ N thì anh em các cụ hoạch định lại ngõ đi. Từ đó gia đình cụ, cụ P mới không sử dụng đoạn ngõ đi này nữa mà đi lối đi giáp đường liên thôn; ngõ này thuộc về gia đình cụ N. Việc hoạch định lại ngõ của các anh em nhà cụ chỉ thỏa thuận miệng, không có văn bản gì.
Các đương sự không xuất trình thêm chứng cứ mới và không thỏa thuận được cách giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.
- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc A nộp đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật và đã nộp tiền tạm ứng án phí nên được chấp nhận về mặt hình thức. Bà T thuộc trường hợp miễn tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.
Tại phiên toà: Có mặt nguyên đơn, bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn; những người có quyền và nghĩa vụ có liên quan có mặt. Một số người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật TTDS xét xử vụ án theo quy định của pháp luật
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án của ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc A.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về nguồn gốc diễn biến quá trình sử dụng đất của gia đình nguyên đơn và bị đơn: Cụ Nguyễn Văn P và cụ Nguyễn Văn N là hai anh em ruột cùng ở trên thửa đất cha ông để lại tại Thôn T, xã L, T, Hà Nội.
[2.1]. Về nguồn gốc đất của gia đình nguyên đơn bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Theo hồ sơ địa chính về các thửa đất liên quan do UBND xã L cung cấp thể hiện: Bản đồ địa chính đo đạc theo chỉ thị 299/TTg thể hiện thửa đất của gia đình cụ Nguyễn Văn P (bố đẻ ông Nguyễn Hồng Q) thuộc thửa 43, tờ bản đồ số 01 diện tích 1306m². Thửa đất có phía Đông giáp đường liên thôn T - N và phía Bắc giáp đường ngõ xóm; thửa đất của gia đình cụ Nguyễn Văn N đo đạc chập thửa với gia đình ông Nguyễn Văn T4 thuộc thửa 133, tờ bản đồ 01 diện tích 960m². Thửa đất có phía Nam giáp đường ngõ xóm. Bản đồ địa chính đo đạc năm 1994, thửa đất của gia đình cụ P thuộc thửa 65, thửa đất của gia đình cụ N thuộc thửa 57 cùng tờ bản đồ số 04, đều đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Đoạn ngõ đi từ vị trí tường hồi nhà thờ của gia đình cụ N đến giáp thửa đất của ông Nguyễn Văn T2 có diện tích 25m² nằm trong thửa đất của gia đình ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.2]. Về quá trình sử dụng và tranh chấp ngõ đi:
Theo hồ sơ kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất của gia đình cụ P, cụ N do Văn phòng Đ2 Chi nhánh T5 cung cấp, thể hiện: Năm 2005, gia đình cụ Nguyễn Văn P có biên bản họp gia đình phân chia thửa đất số 65, tờ bản đồ số 04, trong đó toàn bộ diện tích 1402m², vợ chồng ông P chia cho các con và chỉ bớt lại 105m² trong thửa 65 đứng tên vợ chồng ông P. Theo biên bản họp gia đình lập ngày 01/3/2005 và biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của UBND xã L đã thể hiện thửa 65(2) diện tích 105m² đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Văn P có ranh giới phía Bắc dài 8,5m giáp ngõ xóm (đoạn ngõ đi đang tranh chấp). Các thửa đất khác chia cho các con cụ P sử dụng lối đi giáp đường làng và ngõ đi chung cắt ra từ thửa đất 65 của cụ P. Năm 2006, gia đình cụ Nguyễn Văn N đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 365m2 trong đó có 25m2 ngõ đi chung (đoạn ngõ đi đang tranh chấp).
Qua xem xét hồ sơ địa chính về các thửa đất và hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất các thửa đất được chia tách từ thửa 65 của cụ P thể hiện ranh giới thửa 65(2) tờ bản đồ số 04 có ranh giới phía Bắc giáp ngõ xóm (đoạn ngõ đi đang tranh chấp). Biên bản họp gia đình, kiểm tra hiện trạng đều có xác nhận của UBND xã L. Nội dung kê khai này phù hợp với bản đồ địa chính lập theo chỉ thị 299/TTg thể hiện đoạn ngõ đi đang có tranh chấp là ngõ xóm, do UBND xã quản lý. Hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất của gia đình cụ N thực hiện năm 2006 (sau thời điểm gia đình cụ P kê khai), diện tích 25m² có hiện trạng là ngõ đi nằm trong thửa đất của gia đình cụ N - trùng hợp với bản đồ địa chính đo đạc năm 1994. Như vậy, hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa 65(2) và thửa 57 cùng tờ bản đồ số 04 thôn T, xã L, T, Hà Nội có sự không thống nhất về đoạn ngõ đi đang có tranh chấp.
Mặt khác theo lời khai xác nhận của các bên đương sự, thửa đất 65(2) của cụ P và thửa đất số 57 cùng tờ bản đồ số 04 của cụ N đều có nguồn gốc cha ông để lại. Cụ P khẳng định trên thửa đất cha mẹ để lại, cụ N và cụ P cùng sử dụng đoạn ngõ đi diện tích 25m² để đi ra ngõ xóm và đây là ngõ đi duy nhất của các thửa đất. Theo các tài liệu do nguyên đơn xuất trình thì gia đình cụ P mua thêm các thửa đất ao ở liền kề, giáp đường liên thôn và đã nhập chung với thửa đất cha ông để lại nên thửa đất của gia đình cụ P sử dụng cả hai lối đi giáp ngõ xóm (đoạn ngõ đi đang tranh chấp) và lối đi giáp đường liên thôn. Đến thời điểm hiện nay, vợ chồng cụ P, cụ D vẫn sinh hoạt trên thửa đất số 65(2), diện tích 105m² là thửa đất được thừa hưởng của tổ tiên và sử dụng lối đi chung với gia đình cụ N, chỉ phân chia cho các con phần đất do vợ chồng cụ P tạo lập giáp đường liên thôn. Lời khai này của cụ P phù hợp với lời khai của người làm chứng do bị đơn yêu cầu triệu tập là cụ Nguyễn Văn T2 (cụ T2 cũng là anh em ruột của cụ P, cụ N) tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên toà phúc thẩm khẳng định, ngõ đang tranh chấp đã tồn tại hàng trăm năm nay, các anh em trong gia đình cụ T2, cụ P và cụ N đều sử dụng đoạn ngõ này để đi ra ngõ xóm, chỉ sau khi cụ N kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất, đoạn ngõ đi này nằm trong thửa đất của gia đình cụ N thì anh em các cụ hoạch định lại ngõ đi. Từ đó gia đình cụ T2, cụ P mới không sử dụng đoạn ngõ đi này nữa mà đi lối đi giáp đường liên thôn; ngõ này thuộc về gia đình cụ N. Tuy nhiên việc hoạch định lại ngõ của các anh em nhà cụ T2 không có văn bản cũng như không được được cụ P thừa nhận.
Ngoài ra việc xác định ngõ đang tranh chấp này là ngõ đi chung của các anh em nhà cụ N thể hiện tại: Đơn giải quyết ngõ đi ngày 26/7/1994 có chữ ký của cụ N, cụ B, cụ P, cụ T2, bà L, bà T1, ông S, bà B1, cụ V đã ghi: ...Tổ tiên, cha mẹ chúng tôi đã mất, có để lại cho chúng tôi nhà cửa đất đai, ngõ đi từ xưa đã qua mấy đời.... Gia tộc nhà chúng tôi có ngõ đi lại giao lưu làm ăn, họ hàng qua lại nhà thờ cho dễ dàng. Bà Đ1, ông N phải thực hiện đúng là ngõ công của gia tộc.
Các tài liệu chứng cứ do các bên đương sự xuất trình về quá trình xây dựng, cải tạo ngõ đi, thấy: Nguyên đơn và bị đơn đều xuất trình bản photo Biên bản họp bàn về việc lát ngõ đi chung lập ngày 31/01/2010 sau khi cụ P cụ N được cấp giấy chứng nhận QSDĐ có nội dung các hộ trong ngõ xóm cùng đóng tiền mua vật liệu, thuê nhân công để đổ bê tông đoạn ngõ đi “chiều dài tính từ nhà chú T3 trở vào hậu nhà ông T2 đã được cấp có thẩm quyền cắt kẻ là ngõ đi của xóm”. Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự xác nhận chiều dài ngõ xóm được xác định từ vị trí thửa đất của gia đình ông T3 cách đoạn ngõ đi đang tranh chấp 4 - 5 nhà. Như vậy nội dung biên bản họp bàn về việc đóng tiền lát ngõ đi chung được xác định đoạn ngõ đi từ hậu nhà ông T2 kéo thẳng ra ngõ xóm bao gồm cả đoạn ngõ đi diện tích 25m² đang có tranh chấp. Các hộ đóng góp bao gồm hộ ông M, bà T, anh Ngọc A và ông Nguyễn Hồng Q (đóng 2 suất). Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, các đương sự đều có lời khai xác nhận hiện trạng ngõ đi chung đang có tranh chấp là ngõ đổ bê tông được xây dựng theo chương trình nông thôn mới. Như vậy, việc bị đơn có lời khai và xuất trình đơn xin xác nhận việc cải tạo xây dựng ngõ đi theo biên bản lập ngày 31/01/2010 không bao gồm đoạn ngõ đi đang tranh chấp là không phù hợp.
Từ nhận định trên cấp sơ thẩm ở xác định đoạn ngõ đi có chiều rộng 02m tính từ ranh giới thửa 65(2), chiều dài 12,5m tính từ vị trí hậu nhà ở anh Ngọc A đang quản lý, sử dụng kéo dài đến hậu tường hậu nhà ở của gia đình ông T2, diện tích 25m² là ngõ đi chung của thửa 57 và thửa 65(2) cùng tờ bản đồ 04, thôn T, xã L, T, Hà Nội là đúng quy định của pháp luật. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Hồng Q tại thửa 65(2) nhưng không thể hiện lối đi giáp đường theo hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận mà cấp cho các thửa 57 thể hiện ngõ đi chung nhưng nằm trong thửa đất 57 là sơ suất của cơ quan quản lý đất đai tại địa phương và cũng không phù hợp với hiện trạng sử dụng lối đi của các chủ sử dụng đất có liên quan. Vì vậy, trên cơ sở bản án có hiệu lực pháp luật và theo yêu cầu của các đương sự, các cơ quan quản lý đất đai có có nghĩa vụ đăng ký biến động về quyền sử dụng lối đi theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai.
[2.3]. Về yêu cầu các chủ sử dụng thửa đất 57 phải chấm dứt hành vi cản trở nguyên đơn sử dụng ngõ đi:
Xét thấy: Theo biên bản xem xét hiện trạng, trên đoạn ngõ đi chung diện tích 25m² nêu trên có 02 cánh cổng sắt do ông M và ông Ngọc A dựng lên gây cản trở việc sử dụng lối đi chung của nguyên đơn, cấp sơ thẩm buộc ông Ngọc A và ông M có nghĩa vụ dỡ bỏ cánh cổng sắt để đảm bảo quyền sử dụng lối đi chung của nguyên đơn và yêu cầu các chủ sử dụng đất các thửa 57 chấm dứt hành vi cản trở sử dụng ngõ đi chung của nguyên đơn là phù hợp với pháp luật.
Từ các phân tích và nhận định trên, kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc A không có căn cứ để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi, không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 163, Điều 164 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc A.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng Q đối với ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T:
- - Xác định diện tích 25m² đất (rộng 2m, dài 12,5m) trong thửa 57(1), tờ bản đồ số 04 đứng tên chủ sử dụng ông Nguyễn Ngọc A là ngõ đi chung của các thửa đất số 65(2) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Hồng Q; thửa đất số 57(1) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Ngọc A, thửa 57(2) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Văn M; thửa 57(3) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Thị T và thửa 57(4) đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Văn Đ, Tống Thị T1, cùng tờ bản đồ số 04 năm 1994, xã L, huyện T, Hà Nội.
- - Ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ dỡ bỏ cánh cổng sắt trên đoạn ngõ đi chung để đảm bảo việc sử dụng ngõ đi chung.
- Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đăng ký biến động đối với các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp về quyền sử dụng ngõ đi chung nêu trên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng Q đối với ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T:
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Nguyễn Hồng Q không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông Q 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0063919 ngày 25/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- + Ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T, mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
- + Ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Văn M mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0007131 và 0007133 ngày 25/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- + Trả lại bà Nguyễn Thị T 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0007132 ngày 25/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND TP Hà Nội;
- - TAND huyện Thanh Trì;
- - Chi cục THADS huyện Thanh Trì;
- - Lưu HS, VP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 471/2024/DS-PT ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 471/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
