TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4705/2024/KDTM-ST
Ngày: 27-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Chi
- Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 281/2022/KTST ngày 30 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6337/2024/QĐXXST-KT ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7617/2024/QĐST- KT ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH D.
Địa chỉ: B đường T, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Định T
(Văn bản ủy quyền số 1011/2023/UQ-VTHL ngày 10/11/2023)
Bị đơn: Công ty TNHH T2.
Địa chỉ: Số H đường số C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị Cẩm T1, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 03 tháng 11 năm 2022, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Công ty TNHH D có ông Dương Định T làm đại diện trình bày:
Ngày 14/5/2021 Công ty TNHH D (gọi tắt là công ty D) có ký kết Hợp đồng nguyên tắc về việc vận chuyển hàng hóa số 1405/2021/HDVC/VT-HL với Công ty TNHH T2 (gọi tắt là công ty T2) với nội dung là công ty D nhận vận chuyển hàng hóa theo yêu cầu của công ty T2, loại hàng hóa vận chuyển thì tùy theo từng đơn hàng, số lượng thì căn cứ vào nhu cầu vận chuyển thực tế phát sinh của từng lô hàng, từng chuyến hàng theo yêu cầu của công ty T2, giá cước thì theo báo giá của công ty D đã được bên công ty T2 chấp thuận hoặc theo các phụ lục của Hợp đồng mà hai bên ký kết, hình thức thanh toán chuyển khoản hoặc tiền mặt, thời hạn thanh toán là hai bên tiến hành đối chiếu công nợ cước vận chuyển vào cuối mỗi tháng và bên công ty T2 sẽ thanh toán cho bên công ty D trong vòng 10 ngày của tháng tiếp theo ngoài ra các bên cũng thỏa thuận trường hợp công ty T2 chậm thanh toán thì phải chịu phạt lãi suất số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn trên thị trường tại thời điểm thanh toán cho bên công ty D. Thực hiện hợp đồng công ty D đã thực hiện việc vận chuyển theo yêu cầu của công ty T2, tính đến ngày 11/7/2022 thì Công ty T2 còn nợ tiền cước vận chuyển tháng 5/2022 là 120.653.650 đồng, tháng 6/2022 là 256.138.806 đồng và tháng 7 là 18.340.800 đồng, tổng số tiền cước 3 tháng là 395.133.256 đồng. Ngày 03/9/2022 công ty T2 có thanh toán số tiền 111.990.228 đồng. Như vậy số tiền cước mà phía công ty T2 chưa thanh toán cho công ty D là 283.143.028 đồng. Việc công ty T2 không thanh toán cho công ty D số tiền cước vận chuyển làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ít hợp pháp của công ty D nên công ty D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Buộc công ty T2 thanh toán số tiền cước vận chuyển còn thiếu của tháng 5, 6, 7 năm 2022 với số tiền là 283.143.028 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án là ngày 30/11/2022 đến ngày 27/9/2024 trên số tiền 283.143.028 đồng với mức lãi suất là 1% tháng tương ứng số tiền là 62.008.317 đồng. Đối với khoản tiền phạt là 60.000.000 đồng thì phía công ty D xin rút lại không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Công ty TNHH T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Toà án đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, thời hạn xét xử đã quá so với thời gian quy định, kiến nghị rút kinh nghiệm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về Hợp đồng vận chuyển hàng hóa với bị đơn. Xét đây là “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”, theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bị đơn Công ty TNHH T2 có trụ sở tại thành phố T. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Ông Dương Định T là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Công ty TNHH T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T và Công ty TNHH T2.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về yêu cầu trả số tiền gốc là 283.143.028 đồng.
- Căn cứ vào Hợp đồng nguyên tắc về việc vận chuyển hàng hóa số 1405/2021/HDVC/VT-HL ngày 14/5/2021 do Công ty TNHH T2 và Công ty TNHH D đã ký kết; Căn cứ vào biên bản đối chiếu công nợ ngày 11/7/2022; Bảng kê cước vận chuyển tháng 07/2022 và các chứng từ kèm và bản khai nguyên đơn.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 2 của Hợp đồng nguyên tắc về việc vận chuyển hàng hóa số 1405/2021/HDVC/VT-HL ngày 14/5/2021 có thỏa thuận “Thời hạn thanh toán: Hai bên tiến hành đối chiếu công nợ cước vận chuyển vào cuối mỗi tháng. Bên A (Công ty TNHH T2) sẽ thanh toán cho bên B (Công ty TNHH D) trong vòng 10 ngày của tháng tiếp theo”. Xét thấy đối với các khoản tiền cước tháng 5 và tháng 6 thì hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ vào ngày 11/7/2022 và theo thỏa thuận trên thì Công ty TNHH T2 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền cước tháng 5 và tháng 6 vào ngày 21/7/2022; Đối với khoản tiền cước tháng 7 tuy các bên chưa tiến hành đối chiếu công nợ nhưng phía nguyên đơn cũng cung cấp được các chứng từ vận chuyển của tháng 7/2022. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền cước vận chuyển tháng 5, 6, 7/2022 với số tiền là 283.143.028 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Về yêu cầu trả tiền lãi chậm thanh toán với số tiền là 62.008.317 đồng.
Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi chậm thanh toán trên số tiền còn thiếu là 283.143.028 đồng tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án ngày 30/11/2022 đến ngày xét xử ngày 27/9/2024 với mức lãi suất là 1%/ tháng tương ứng với số tiền 62.008.317 đồng. Căn cứ vào Điều 4 của Hợp đồng có thảo thuận “Nếu Bên A (Công ty TNHH T2) thanh toán chậm tiền cước vận chuyển thì bên A phải chịu phạt lãi suất số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn trên thị trường tại thời điểm thanh toán”. Xét thấy các bên có thỏa thuận trong Hợp đồng là trường hợp chậm thanh toán thì phải chịu lãi nhưng không ghi rõ mức lãi suất là bao nhiêu nên không dựa vào thỏa thuận để xem xét. Do thỏa thuận không cụ thể nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 306 của Luật thương mại để xem xét. Theo công văn trả lời lãi suất của của Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Đ, Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh G và của Ngân hàng N1 - Chi nhánh 9 thì mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm là [lãi suất nợ quá hạn của A + lãi suất nợ quá hạn của V + lãi suất nợ quá hạn của V1]/3= [(9.9%x150%)+ (9.5%x150%) + (8.7% 150%)]/3= 14,05%/năm. Do đó mức lãi suất mà phía bị đơn yêu cầu là 1%/tháng tương đương 12%/năm là thấp hơn quy định có lợi cho bị đơn và theo như thỏa thuận thì phía bị đơn phải trả tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 21/7/2022, tuy nhiên nguyên đơn yêu cầu trả tiền lãi từ ngày Tòa án thụ lý vụ án ngày 30/11/2022 là có lợi cho bị đơn nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3.3] Về yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng với số tiền 60.000.000 đồng thì trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn rút yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền phạt vi phạm theo Hợp đồng nguyên tắc về việc vận chuyển hàng hóa số 1405/2021/HDVC/VT-HL ngày 14/5/2021 nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu phạt vi phạm.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Về thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử ghi nhận và rút kinh nghiệm.
[5] Án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 244; khoản 1, khoản 2 Điều 269; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 85; Điều 87 và Điều 306 Luật thương mại năm 2005
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH D.
- Buộc Công ty TNHH T2 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH D số tiền 345.151.345 đồng (ba trăm bốn mươi lăm triệu, một trăm năm mươi mốt ngàn, ba trăm bốn mươi lăm đồng) (trong đó nợ gốc 283.143.028 đồng; tiền lãi 62.008.317 đồng) theo Hợp đồng nguyên tắc về việc vận chuyển hàng hóa số 1405/2021/HDVC/VT-HL ngày 14/5/2021, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền phạt vi phạm theo Hợp đồng nguyên tắc về việc vận chuyển hàng hóa số 1405/2021/HDVC/VT-HL ngày 14/5/2021.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền 17.257.567 đồng (mười bảy triệu, hai trăm năm mươi bảy ngàn, năm trăm sáu mươi bảy đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho Công ty TNHH D số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.861.718 đồng (tám triệu, tám trăm sáu mươi mốt ngàn, bảy trăm mười tám đồng) theo biên lai thu số AA/2022/0006948 ngày 21/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 4705/2024/KDTM-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
- Số bản án: 4705/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
