Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4701/2024/DS-ST

Ngày: 27-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Quốc Hưng

2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1136/2024/TLST- DS ngày 30/5/2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6550/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7391/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1986

Địa chỉ: C đường C, khu nhà ở T, tổ F, Khu phố A, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Đàm Thị Hương L, sinh năm 1979

Địa chỉ: C Chung cư B, Đường C, Khu phố D, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(nguyên đơn có mặt, và bị đơn vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2024, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Lê Văn Q trình bày:

Trước khi cho bà Đàm Thị Hương L vay tiền, ông có quen biết bà Lê Thu T đồng nghiệp cùng công ty với ông. Thông qua bà T ông mới biết được bà Hương L và qua liên hệ zalo, điện thoại, ông đã cho bà L vay tiền với số tiền 549.000.000 đồng qua số tài khoản 19025837292011 tại Ngân hàng TMCP K chủ tài khoản Đàm Thị Hương L. Sau khi chuyển khoản xong bà L có gửi giấy biên nhận vay tiền do bà L soạn và nhờ bà T chuyển lại cho ông. Nên sự nhầm lẫn về các ngày, tháng trong giấy biên nhận vay tiền là do bà Đàm Thị Hương L ghi, cụ thể các giấy biên nhận vay tiền như sau:

  • Ngày 13/10/2022 ông có chuyển khoản cho bà L vay số tiền 95.000.000 đồng, ngày 14/10/2022 ông tiếp tục chuyển khoản cho bà H vay số tiền 55.000.000 đồng. Bà L có viết biên nhận vay tiền ngày 13/01/2022 xác nhận đã nhận đủ số tiền vay là 150.000.000 đồng và hẹn trả số tiền trên vào ngày 13/4/2023.
  • Ngày 08/12/2022 ông đã chuyển khoản cho bà L vay số tiền 100.000.000 đồng. Cùng ngày bà L có viết biên nhận vay tiền xác nhận đã nhận đủ số tiền vay là 100.000.000 đồng và hẹn trả số tiền trên vào ngày 13/4/2023.
  • Ngày 17/12/2022 ông đã chuyển khoản cho bà L vay số tiền 100.000.000 đồng. Bà L có viết biên nhận vay tiền ngày 17/3/2022, bà cũng xác nhận có nhận đủ tiền và hẹn trả số tiền trên vào ngày 17/6/2023.
  • Ngày 13/02/2023 thực tế ông đã chuyển khoản cho bà L vay số tiền 99.000.000 đồng, không phải 100.000.000 đồng theo như giấy biên nhận vay tiền mà bà L xác nhận. Bà L có viết giấy biên nhận vay tiền ngày 13/02/2022, xác nhận có nhận đủ tiền và hẹn trả số tiền trên vào ngày 13/5/2023.
  • Ngày 05/05/2023 ông đã chuyển khoản cho bà L vay số tiền 100.000.000 đồng. Bà L có viết biên nhận vay tiền vay tiền ngày 05/5/2022 đồng thời có xác nhận đã nhận số tiền vay là 100.000.000 đồng và hẹn trả số tiền trên vào ngày 05/8/2023 nhưng do nhầm lẫn, bà H viết nhầm năm 2023 thành năm 2022. Thực tế là tôi đã chuyển cho bà H vay 100.000.000 đồng vào ngày 05/5/2023.

Các biên nhận vay tiền mặc dù bị sai ngày ghi biên nhận nhưng số tiền ông chuyển khoản với ngày hẹn trả vẫn phù hợp với sự thỏa thuận của ông và bà L, nên ông cũng không yêu cầu bà L phải sửa lại các giấy biên nhận này.

Trong quá trình vay tiền, bà L đã chuyển trả cho ông số tiền gốc là 75.000.000 đồng, lần lượt các ngày sau:

  • Ngày 15/11/2020, bà L có chuyển trả cho tôi số tiền 6.000.000 đồng;
  • Ngày 16/12/2022 bà L chuyển trả cho tôi số tiền 6.000.000 đồng;
  • Ngày 09/01/2023 bà L có chuyển trả cho tôi số tiền 4.000.000 đồng;
  • Ngày 20/02/2023 bà L có chuyển trả cho tôi số tiền 13.000.000 đồng;
  • Ngày 22/3/2023 bà L chuyển trả tôi 18.000.000 đồng;
  • Ngày 26/4/2023 bà L chuyển trả tôi 18.000.000 đồng;
  • Ngày 21/7/2023 bà L chuyển trả tôi 10.000.000 đồng.

Từ đó đến nay bà L không trả thêm nữa.

Mặt khác, ông xác định đây là khoản tiền cá nhân của ông cho bà Đàm Thị Hương L vay nên đề nghị Tòa án không triệu tập vợ ông là bà Bạch Thị M tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ông chỉ yêu cầu cá nhân bà L trả khoản vay này, ông cũng không biết chồng bà L là ai nên ông không yêu cầu ai khác.

Vì vậy, ông làm đơn khởi kiện bà Đàm Thị Hương L để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tuyên buộc:

  • Buộc bà Đàm Thị Hương L phải thanh toán số tiền vay còn thiếu 474.000.000 đồng.
  • Tiền lãi phát sinh tính từ ngày 22/7/2023 đên 22/7/2024 với lãi suất 20%/năm là 109.800.000 đồng.

Tổng số tiền phải trả là 658.000.000 đồng.

Bị đơn Đàm Thị Hương L mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt, và bị đơn cũng như không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn - Ông Lê Văn Q trình bày: Trong quá trình giải quyết, ông có thay đổi về phần lãi suất, ông chỉ tính lãi suất 10%/năm do các bên không có thỏa thuận về lãi suất. Thời gian tính lãi ông tính từ ngày 06/8/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà Đàm Thị Hương L phải thanh toán cho ông số tiền: 527.893.150 đồng, trong đó:

Tiền nợ gốc: 474.000.000 đồng

Tiền lãi phát sinh 10%/năm tính từ ngày 06/8/2023 đến ngày 27/9/2024: 53.893.150 đồng

Bị đơn – Bà Đàm Thị Hương L mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Toà án đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

3

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ pháp luật tranh chấp xuất phát từ Biên nhận vay tiền, nguyên đơn – ông Lê Văn Q yêu cầu bị đơn bà Đàm Thị Hương L phải thanh toán tiền còn nợ theo Biên nhận vay tiền, do vậy căn cứ Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn bà Đàm Thị Hương L có nơi cư trú tại Thành phố T. Do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ bản sao Giấy chứng nhận kết hôn số 114, quyển số 01/2015 ngày 24/9/2015 và Bản tự khai của bà Bạch Thị M (vợ của ông Lê Văn Q) ngày 02/8/2024, xác định ông Lê Văn Q cho bà Đàm Thị Hương L vay là tài sản riêng ông Q, không liên quan đến bà M nên Tòa án không đưa bà Bạch Thị M vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn bà Đàm Thị Hương L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Đàm Thị Hương L vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tại địa chỉ nơi cư trú của bà L các văn bản tố tụng của tòa án, nhưng bị đơn vẫn không đến Tòa và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến cũng như các chứng cứ phản bác lại yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

[3.1] Về yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc 474.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

4

Căn cứ vào các Biên nhận vay tiền bản chính đề các ngày 13/01/2022, 13/02/2022, 17/03/2022, 05/5/2022 và ngày 08/12/2022 có chữ ký của bà Đàm Thị Hương L. Bản chính sao kê của Ngân hàng TMCP N thể hiện các ngày chuyển khoản từ tài khoản của ông Q chuyển qua tài khoản cho bà Đàm Thị Hương L các ngày 13/10/2022, 14/10/2022, 08/12/2022, 17/12/2022, 13/02/2023 và ngày 05/5/2023 với nội dung chuyển khoản “Q chuyển tiền cho chị L vay”, tổng cộng số tiền chuyển khoản là 549.000.000 đồng. Mặt khác, trong quá trình vay tiền bà L có trả các lần tiền theo tài liệu sao kê của Ngân hàng TMCP N do nguyên đơn cung cấp các ngày 15/11/2020, 16/12/2022, 09/01/2023, 20/02/2023, 22/3/2023, 26/4/2023 và ngày 21/7/2023 có nội dung chuyển khoản “Chị L chuyển trả Q” với tổng số tiền 75.000.000 đồng.

Đây là các chứng cứ được ông Lê Văn Q giao nộp cho Tòa, giấy vay tiền chữ viết rõ ràng, dễ đọc và không tẩy xóa, mặc dù các biên nhận vay tiền 13/01/2022, 13/02/2022, 17/03/2022, 05/5/2022 đều không trùng với ngày chuyển tiền, tuy nhiên số tiền vay và ngày hẹn trả tiền vẫn đúng như thỏa thuận của các bên, bà L đã nhận đủ tiền theo sao kê tài khoản Ngân hàng, bà L cũng không có ý kiến phản hồi. Do đó, các chứng cứ trên phù hợp với quy định tại Điều 93, 94, 95 và 463 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự nên được chấp nhận. Như vậy, có căn cứ xác định bà L có vay tiền của ông Q. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện đề nghị bà L phải thanh toán số tiền gốc là 474.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Tiền lãi phát sinh 10%/năm tính từ ngày 06/8/2023 đến ngày 27/9/2024: 53.893.150 đồng:

Về lãi suất: Nguyên đơn trình bày các bên không có thỏa thuận về lãi suất. Do đó, nguyên đơn chỉ yêu cầu lãi suất 10%/năm. Xét thấy yêu cầu này là phù hợp với quy định của pháp luật, do đó căn cứ Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.” Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về lãi suất chậm trả là 10%/năm.

Về thời gian chậm trả: Nguyên đơn xác định thời gian chậm trả căn cứ vào Biên nhận vay tiền ngày 05/5/2022 có ngày hẹn trả tiền 05/8/2023 nên thời gian chậm trả là bắt đầu từ ngày 06/8/2023 đến 27/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 1 năm 20 ngày. Hội đồng xét xử xét thấy:

  • Biên nhận vay tiền ngày 13/01/2022, ngày hẹn trả tiền 13/04/2023;
  • Biên nhận vay tiền ngày 13/02/2022, ngày hẹn trả tiền 13/05/2023;
  • Biên nhận vay tiền ngày 17/3/2022, ngày hẹn trả tiền 17/06/2023;

5

  • Biên nhận vay tiền ngày 08/12/2022, ngày hẹn trả tiền 08/3/2023;
  • Biên nhận vay tiền ngày 05/5/2022, ngày hẹn trả tiền 05/8/2023;

Căn cứ vào các ngày trả tiền nợ vay, yêu cầu thời gian chậm trả của nguyên đơn là có lợi cho bị đơn nên có cơ sở chấp nhận.

Số tiền lãi phải trả tính từ ngày 06/8/2023 đến 27/9/2024: 474.000.000 đồng x 1 năm 1 tháng 20 ngày x 10%/năm = 53.893.150 đồng.

Tổng cộng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền: 527.893.150 đồng (trong đó: nợ gốc: 474.000.000 đồng, tiền lãi chậm thanh toán: 53.893.150 đồng tính đến ngày 27/9/2024).

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị đơn phải chịu án phí trên yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận

4. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 93; Điều 94; Điều 95; khoản 1 Điều 147; Điều 244; khoản 1, khoản 2 Điều 269; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ Luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Q:

Buộc bà Đàm Thị Hương L trả lại cho ông Lê Văn Q số tiền 527.893.150 (năm trăm hai mươi bảy triệu tám trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi) đồng, trong đó: nợ gốc: 474.000.000 (bốn trăm bảy mươi bốn triệu) đồng; tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 06/8/2023 đến ngày 27/9/2024 là 53.893.150 (Năm mươi ba triệu tám trăm chín mươi ba nghìn một trăm năm mươi) đồng

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

6

2. Về án phí:

- Bà Đàm Thị Hương L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 25.115.726 (hai mươi lăm triệu một trăm mười lăm ngàn bảy trăm hai mươi sáu) đồng. Bà L chưa nộp án phí.

- Ông Lê Văn Q không phải chịu án phí dân sự, hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí ông Lê Văn Q đã nộp là 15.176.000 (mười lăm triệu một trăm bảy mươi sáu ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0027137 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Đức.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thu Phương

7

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

8

Võ Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4701/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4701/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger