|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 470/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31 – 7 – 2024
V/v ly hôn Tiên – Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Ông Lê Văn Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2024/TLST- HNGĐ, ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 318/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ G, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Hữu P, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/02/2024 và lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T trình bày: Thông qua mai mối, bà T và ông P thành vợ chồng, có tổ chức lễ cưới vào năm 2010 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 17/3/2010. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi nhau do tính tình không hợp, mỗi lần ông P uống rượu về vợ chồng lại cãi nhau, có lần còn đánh nhau. Đến khoảng tháng 8 năm 2023 bà T không còn chung sống với ông P đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bà xin ly hôn ông P.
Bà và ông P có 02 con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh năm 25/02/2011 và Trần Nguyễn Đức T1, sinh ngày 16/7/2017 đang do bà T nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con.
Bà và ông P không có tài sản chung, nợ chung
Tại phiên tòa bị đơn ông Trần Hữu P trình bày.
Ông và bà T tự tìm hiểu khoảng 2 năm thì tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng có cự cãi những chuyện trong sinh hoạt gia đình, nhưng không có đánh nhau như bà T nói. Lý do bà T bỏ đi là do ông không đi du lịch chung cùng vợ nên vợ nghe lời người khác bỏ nhà đi. Vợ chồng ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Nhiều lần ông P tìm bà T để hàn gắn nhưng bà T còn dùng lời nói khó nghe nên không hàn gắn được. Ông không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ và muốn các con có đủ cha mẹ.
Về con chung: ông P và bà T có 02 con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh năm 25/02/2011 và Trần Nguyễn Đức T1, sinh ngày 16/7/2017 đang do bà T nuôi dưỡng. Từ khi ly thân đến nay ông đều gửi tiền về cho các con. Nếu Tòa án cho ly hôn ông đồng ý giao con cho bà T nuôi. Ông tự nguyện cấp dưỡng cho mỗi con 2.000.000đồng/tháng.
Về tài sản chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết,
Về nợ chung: Không có
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn ông Trần Hữu P. Bà T và ông P có 02 con chung, giao bà T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của ông P cấp dưỡng cho mỗi con 2.000.000 đồng/tháng. Bà T và ông P không có tài sản chung nợ chung nên không xem xét giải quyết. Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
2
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Bà T và ông P tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P cấp ngày 17/3/2010 hôn nhân của anh chị là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Quá trình chung sống bà T và ông P nhiều lần cự cãi, mâu thuẫn của ông bà không hàn gắn được, bà T cương quyết ly hôn, ông bà đã không chung sống với nhau từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Xét thấy, bà T và ông P vi phạm nghĩa vụ chung sống, yêu thương, chăm sóc của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
[2.2] Về nuôi con chung:
Bà T và ông P có 02 con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh năm 25/02/2011 và Trần Nguyễn Đức T1, sinh ngày 16/7/2017 đang do bà T nuôi dưỡng. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay bà T là người trực tiếp nuôi con, các cháu có nguyện vọng sống với mẹ. Để ổn định cuộc sống của các cháu nên Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng.
Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng ông P tự nguyện cấp dưỡng mỗi con 2.000.000 đồng/tháng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của ông P.
[2.3] Về tài sản chung: Bà T và ông P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Bà T và ông P trình bày không có nợ chung nên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đồng. ông P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn ông Trần Hữu P.
- Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh năm 25/02/2011 và Trần Nguyễn Đức T1, sinh ngày 16/7/2017 đang do bà T nuôi dưỡng. Giao con chung cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng.
Ghi nhận ông Trần Hữu P tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 2.000.000 đồng/ tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7/2024 đến khi con chung thành niên và lao động được.
Bà T và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho ông P đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở ông P thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ: Ghi nhận bà T và ông P trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006692 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông P phải chịu án phí cấp dưỡng 300.000 đồng.
Ông P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Rỡ |
4
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
5
Bản án số 470/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 470/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
