|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 470/2024/DS-PT Ngày: 24/5/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng góp vốn đầu tư |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Huyền Phương
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Huyền
- Bà Đỗ Thị Hoà
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Như Khương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 249/2024/TLPT-DS ngày 06/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn đầu tư”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 197/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1622/2024/QĐ-PT ngày 25/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 5483/2024/QĐ-PT ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Bà Trần Xuân H, sinh năm 1951 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số B L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Khắc H1, sinh năm 1974 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số B (số mới 307/40) T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Phan Thị Kim C, sinh năm 1956 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số A đường F, khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Ông Lê Hoàng D, sinh năm 1972 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số A T, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Dương Cửu L, sinh năm 1965 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: A Chung cư H, số A L, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Lương Thị B, sinh năm 1974 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 1 Đồng Nai, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Lê Phạm Li N, sinh năm 1985 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: 26.13 Block EA2 Chung cư E, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền chọ bà H, ông H1, ông D, ông L và bà B: Bà Hồ Thị Minh T, sinh năm 1985 (xin vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số B H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên hệ: Số C N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên V3
Địa chỉ trụ sở chính: Số nhà H phố L, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Văn phòng giao dịch: Số A Đ, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Mạnh T1, sinh năm 1980, chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên
Địa chỉ: Ngách C đường B, phường L, quận L, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Công T2 - Chức vụ: Tổng giám đốc Công ty (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ F, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội
Và/hoặc: Ông Nguyễn Như K - Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Công ty tại phía Nam (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số C khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
(Theo Giấy ủy quyền số 35/UQ-TRANCO ngày 07/5/2024)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956 (vắng mặt)
Địa chỉ: P lô C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Bà Triệu Tú V, sinh năm 1976
Địa chỉ: Số D tổ C, khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Thị Minh T, sinh năm 1985
Địa chỉ thường trú: Số B H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt)
Địa chỉ liên hệ: Số C N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
Bà Lê Thị Ngọc B1, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: A Chung cư H, số A L, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh
Ông Nguyễn Đức L1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A C, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh
Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 7 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Trần Xuân H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị Minh T trình bày:
Ngày 14 tháng 4 năm 2005, bà Trần Xuân H ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số 18/HĐGV-CNPN với Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) – Chi nhánh phía Nam đê mua 01 nền nhà có kích thước 7m x 20m, diện tích 140m2 thuộc Dự án khu dân cư P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 3. Đơn giá cho 01 m2 đất nền là 2.750.000 đồng/01m2, giá trị hợp đồng góp vốn là 385.000.000 đồng. Hợp đồng quy định góp vốn theo 05 đợt, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ lúc đóng tiền đợt 01 cho đến lúc cắm mốc giao nền dự kiến là 20 tháng. Bà H đã nộp tiền góp vốn đợt 01 (tương ứng 30% giá trị góp vốn) với số tiền 115.500.000 đồng theo Phiếu thu số 0001704 ngày 15 tháng 4 năm 2005.
Ngày 12 tháng 8 năm 2005, bà H được phía Công ty thông báo về tiến độ dự án tại Thông báo số 196/TB-PK3, trong đó có nội dung: “...đến nay Công ty chúng tôi đang tiến hành công tác đền bù và lập dự án quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 trình Ủy ban nhân dân huyện N phê duyệt...". Sau đó, Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo cho bà H biết. Qua tìm hiểu, bà H biết được là ngày 22 tháng 7 năm 2008, Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh có Thông báo số 121/TB-VP có nội dung thu hồi việc thuận địa điểm đầu tư...vì chậm trễ trong việc triển khai dự án đối với 05 công ty thành phần, trong đó có Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông – Chi nhánh phía Nam. Do Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông – Chi nhánh phía Nam không có thiện chí giải quyết vụ việc nên bà H nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, bà H có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5 giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 18/HĐGV-CNPN ngày 14 tháng 4 năm 2005 là vô hiệu.
- Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng hoàn trả cho bà H số tiền góp vốn là 115.500.000 đồng và trả tiền lãi do chậm trả tiền góp vốn kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N có Thông báo số 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến khi trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 số tiền là 153.672.750 đồng.
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 7 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Khắc H1 và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị Minh T trình bày:
Ngày 20 tháng 9 năm 2007, ông Nguyễn Khắc H1 ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số 141/HĐGV-CNPN với Công ty V3 và Xây dựng Công trình giao thông (Công ty V3) – Chi nhánh phía Nam để mua 01 nền nhà có kích thước 7m x 20m, diện tích 140m2 thuộc Dự án khu dân cư P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 3. Đơn giá cho 1m2 đất nền là 2.935.000 đồng/1m2, giá trị hợp đồng góp vốn là 410.900.000 đồng. Hợp đồng quy định góp vốn theo 05 đợt, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ lúc đóng tiền đợt 01 cho đến lúc cắm mốc giao nền tạm bàn giao (giai đoạn 1). Ông H1 đã nộp tiền góp vốn đợt 01 (tương ứng 40% giá trị góp vốn) với số tiền 164.360.000 đồng theo Phiếu thu số 0000410 ngày 11 tháng 10 năm 2007. Sau đó, Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo cho ông H1 biết. Qua tìm hiểu, ông H1 biết được là ngày 22 tháng 7 năm 2008, Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh có Thông báo số 121/TB-VP có nội dung thu hồi việc thuận địa điểm đầu tư... vì chậm trễ trong việc triển khai dự án đối với 05 công ty thành phần, trong đó có Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông – Chi nhánh phía Nam. Do Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông – Chi nhánh phía Nam không có thiện chí giải quyết vụ việc nên ông H1 nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, ông Nguyễn Khắc H1 có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5 giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 141/HĐGV-CNPN ngày 20 tháng 9 năm 2007 là vô hiệu.
- Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng hoàn trả cho ông H1 số tiền góp vốn là 164.360.000 đồng và trả tiền lãi do chậm trả tiền góp vốn kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N có Thông báo số 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến khi trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 số tiền là 218.680.980 đồng.
Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 7 năm 2010, đơn bổ sung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Phan Thị Kim C trình bày:
Ngày 22 tháng 10 năm 2004, bà có ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số 65/HĐGV-CNPN với Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) – Chi nhánh phía Nam để mua 01 nền nhà có kích thước 7m x 23m, diện tích 161m2 thuộc dự án Khu dân cư P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 3. Đơn giá cho 01m2 đất nền là 3.000.000 đồng/01m2, giá trị hợp đồng góp vốn là 483.000.000 đồng. Hợp đồng quy định góp vốn theo 05 đợt, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ lúc đóng tiền đợt 01 cho đến lúc cắm mốc giao nền dự kiến là 20 tháng.
Bà đã nộp tiền góp vốn đợt 01 số tiền 160.000.000 đồng (tương ứng 35% giá trị góp vốn) vào tháng 10 năm 2004 theo Phiếu thu chuyển khoản ngày 08 tháng 10 năm 2004 và Phiếu thu chuyển khoản ngày 21 tháng 10 năm 2004. Đến tháng 10 năm 2006, Công ty thông báo cho bà là tiên độ dự án bị chậm do Công ty tiến hành chỉnh sửa dự án trình Ủy ban nhân dân huyện N và Sở Quy hoạch Kiến Trúc phê duyệt. Đầu năm 2008, bà có đến Công ty gặp ông Nguyễn Văn P – Giám đốc Chi nhánh thì được ông P trả lời miệng là do đền bù khó khăn. Ngày 22 tháng 9 năm 2008, bà được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H mời đến để báo lại sự việc trên và bà biết được Ủy ban nhân dân huyện N đã thu hồi dự án với lý do chậm thực hiện. Sau khi hòa giải không thành tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N thì bà C nộp đơn khởi kiện đến Tòa án.
Ngày 04 tháng 5 năm 2023, bà Phan Thị Kim C có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5 giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 65/HĐGV-CNPN ngày 22 tháng 10 năm 2004 là vô hiệu.
- Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng hoàn trả cho bà C số tiền góp vốn là 160.000.000 đồng và trả tiền lãi do chậm trả tiền góp vốn kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N có Thông báo số 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến khi trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 số tiền là 212.880.000 đồng.
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 7 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Lê Hoàng D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị Minh T trình bày:
Ngày 09 tháng 5 năm 2005, ông Lê Hoàng D ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số 25/HĐGV-CNPN với Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) – Chi nhánh phía Nam đê mua 01 nền nhà có kích thước 7m x 20m, diện tích 140m2 thuộc Dự án khu dân cư P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 3. Đơn giá cho 01m2 đất nền là 2.950.000 đồng/01m2, giá trị hợp đồng góp vốn là 413.000.000 đồng. Hợp đồng quy định góp vốn theo 05 đợt, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ lúc đóng tiền đợt 01 cho đến lúc cắm mốc giao nền dự kiến khoảng 20 tháng. Ông D đã nộp tiền góp vốn đợt 01 là 144.500.000 đồng (tương ứng 35% giá trị góp vốn) theo Phiếu thu số 0000305 ngày 09 tháng 5 năm 2005.
Ngày 12 tháng 8 năm 2005, ông Lê Hoàng D được phía Công ty thông báo về tiến độ dự án tại Thông báo số 196/TB-PK3, trong đó có nội dung: “...đến nay Công ty chúng tôi đang tiến hành công tác đền bù và lập dự án quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 trình Ủy ban nhân dân huyện N phê duyệt...”. Sau đó, Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo cho ông D biết. Qua tìm hiểu, ông D biết được là ngày 22 tháng 7 năm 2008, Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh có Thông báo số 121/TB-VP có nội dung thu hồi việc thuận địa điểm đầu tư...vì chậm trễ trong việc triển khai dự án đối với 05 công ty thành phần, trong đó có Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông – Chi nhánh phía Nam. Do Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông – Chi nhánh phía Nam không có thiện chí giải quyết vụ việc nên ông D nộp đơn khởi kiện đến Tòa án giải quyết.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, ông Lê Hoàng D có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5 giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 25/HĐGV-CNPN ngày 09 tháng 5 năm 2005 là vô hiệu.
- Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng hoàn trả cho ông D số tiền góp vốn là 144.500.000 đồng và trả tiền lãi do chậm trả tiền góp vốn kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N có Thông báo số 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến khi trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 số tiền là 192.257.250 đồng.
Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 7 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Dương Cửu L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị Minh T trình bày:
Ngày 18 tháng 9 năm 2004, ông Dương Cửu L ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số 17/HĐGV-CNPN với Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) – Chi nhánh phía Nam để mua 01 nền nhà có kích thước 6m x 20m, diện tích 120m2 thuộc Dự án khu dân cư P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 3. Đơn giá cho 01m2 đất nền là 3.270.000 đồng/01m2, giá trị hợp đồng góp vốn là 392.400.000 đồng. Hợp đồng quy định góp vốn theo 05 đợt, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ lúc đóng tiền đợt 01 cho đến lúc cắm mốc giao nền dự kiến khoảng 20 tháng. Ông L đã nộp tiền góp vốn đợt 01 là 137.340.000 đồng (tương ứng 35% giá trị góp vốn) theo Phiếu thu số 0002209 ngày 18 tháng 9 năm 2004.
Ngày 12 tháng 8 năm 2005, ông Dương Cửu L được phía Công ty thông báo về tiến độ dự án tại Thông báo số 196/TB-PK3, trong đó có nội dung: “...đến nay Công ty chúng tôi đang tiến hành công tác đền bù và lập dự án quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 trình Ủy ban nhân dân huyện N phê duyệt...”. Sau đó, Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo cho ông L biết. Qua tìm hiểu, ông L biết được là ngày 22 tháng 7 năm 2008, Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh có ra Thông báo số 121/TB-VP có nội dung thu hồi việc thuận địa điểm đầu tư...vì chậm trễ trong việc triển khai dự án đối với 05 công ty thành phần, trong đó có Công ty V3 và Xây dựng Công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam. Do Công ty V3 và Xây dựng Công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam không có thiện chí giải quyết vụ việc nên ông L nộp đơn khởi kiện đến Tòa án.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, ông Dương Cửu L có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5 giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 17/HĐGV-CNPN ngày 18 tháng 9 năm 2004 là vô hiệu.
- Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng hoàn trả cho ông L số tiền góp vốn đã nộp là 137.340.000 đồng và trả tiền lãi do chậm trả tiền góp vốn kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N có Thông báo số 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến khi trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 số tiền là 182.730.870 đồng.
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 7 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Lương Thị B và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị Minh T trình bày:
Bà Lương Thị B ký hợp đồng góp vốn đầu tư số 167/HĐGV-CNPN ngày 15 tháng 10 năm 2007 với Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam để mua 01 nền nhà có kích thước 7m x 20m, diện tích 140m2 thuộc Dự án khu dân cư P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 3. Đơn giá cho 01m2 đất nền là 2.935.000 đồng/01m2, giá trị hợp đồng góp vốn là 410.900.000 đồng. Hợp đồng quy định góp vốn theo 05 đợt, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ lúc đóng tiền đợt 01 cho đến lúc cắm mốc giao nền tạm bàn giao (giai đoạn 01). Bà B đã nộp tiền góp vốn đợt 01 là 164.360.000 đồng (tương ứng 40% giá trị góp vốn) theo Phiếu thu số 0001112 ngày 12 tháng 12 năm 2007.
Ngày 12 tháng 8 năm 2005, bà Lương Thị B được phía Công ty thông báo về tiến độ dự án tại Thông báo số 196/TB-PK3, trong đó có nội dung: “...đến nay Công ty chúng tôi đang tiến hành công tác đền bù và lập dự án quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 trình Ủy ban nhân dân huyện N phê duyệt...”. Sau đó, Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo cho bà B biết. Qua tìm hiểu, bà B biết được là ngày 22 tháng 7 năm 2008, Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh có Thông báo số 121/TB-VP có nội dung thu hồi việc thuận địa điểm đầu tư...vì chậm trễ trong việc triển khai dự án đối với 05 công ty thành phần, trong đó có Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông – Chi nhánh phía Nam. Do Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông – Chi nhánh phía Nam không có thiện chí giải quyết vụ việc nên bà B nộp đơn khởi kiện đên Tòa án.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023 và ngày 25 tháng 7 năm 2013, bà Lương Thị B (ủy quyền cho bà Hồ Thị Minh T làm đại diện) có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5 giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 167/HĐGV-CNPN ngày 15 tháng 10 năm 2007 là vô hiệu.
- Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng hoàn trả cho bà B số tiền góp vốn đã nộp là 164.360.000 đồng và trả tiền lãi do chậm trả tiền góp vốn kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N có Thông báo số 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến khi trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 số tiền là 218.680.980 đồng.
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 3 năm 2012 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Lê Phạm Li N trình bày:
Ngày 29 tháng 10 năm 2004, bà ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số 95/HĐGV-CNPN với Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam để mua 01 nền đất có kích thước 6m x 19m, diện tích 114m2 thuộc dự án Khu dân cư P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 3. Đơn giá cho 01m2 đất nền là 3.250.000 đồng/01m2, giá trị hợp đồng góp vốn là 370.500.000 đồng. Hợp đồng quy định góp vốn theo 05 đợt, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ lúc đóng tiền đợt 01 cho đến lúc cắm mốc giao nền dự kiến là 20 tháng.
Bà đã nộp tiền góp vốn đợt 01 là 129.675.000 đồng (tương ứng 35% giá trị góp vốn) bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản số 13010000007196 đứng tên chủ tài khoản là Công ty V3 - Chi nhánh Phía Nam theo Giấy nộp tiền mặt ngày 29 tháng 10 năm 2004 tại Phòng Dịch vụ khách hàng doanh nghiệp Sở G. Qua tìm hiểu bà được biết Ủy ban nhân dân huyện N đã rút giấy phép đầu tư dự án thành phần tại dự án khu dân cư P giai đoạn 3 đối với Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông - Chi nhánh phía Nam. Công ty V3 - Chi nhánh phía Nam là đơn vị phụ thuộc của Công ty Vận tải và Xây dựng. Bà xác định số tiền 129.675.000 đồng là tài sản riêng của cá nhân bà, bà đã thực hiện góp vốn dự án trên trước thời điểm bà kết hôn.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, bà Lê Phạm Li N có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5 giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 95/HĐGV-CNPN ngày 29 tháng 10 năm 2004 là vô hiệu.
- Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng hoàn trả chọ bà N số tiền góp vốn đã nộp là 129.675.000 đồng và trả tiền lãi do chậm trả tiền góp vốn kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N có Thông báo số 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến khi trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản dọ Ngân hàng N2 quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 05 tháng 5 năm 2023 số tiền là 172.565.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án trên, ngày 06 tháng 02 năm 2017, Tòa án nhân dân Quận 5 nhận được văn bản số 13/TRANCO ngày 20 tháng 01 năm 2017 của Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng, trong đó có nội dung: Ông Nguyễn Văn P đã vượt quá phạm vi được Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng ủy quyền để bán đất nền tại dự án tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cho 202 cá nhân thông qua việc lập các hợp đồng góp vốn và không sử dụng số tiền bán đất để đầu tư vào dự án thiết kế và quy hoạch đã được phê duyệt. Ngày 12 tháng 8 năm 2016, Văn phòng C3 đã có văn bản số 6711/VPCP-V.I gửi đơn của Công ty TNHH Một thành viên V3 về việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý kinh doanh của ông Nguyễn Văn P, nguyên Giám đốc Chi nhánh phía Nam đến Bộ C4 để xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật. Ngày 24 tháng 5 năm 2023, Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng (Tranco) có Đơn kiến nghị số 55/TRANCO-BPC gửi Chánh án Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh trong đó có nội dung đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để đợi kết quả vụ án hình sự do T3 đã có đơn gửi các cơ quan bảo vệ pháp luật kiến nghị tiến hành khởi tố, điều tra vụ án, khởi tố bị can đối với ông Nguyễn Văn P để làm rõ các hành vi phạm tội liên quan đến việc lập các hợp đồng góp vốn, thu lợi cá nhân số tiền 41 tỉ đồng. Tại Đơn kiến nghị trên, Công ty TNHH Một thành viên V3 còn cung cấp thông tin là Cục C5 (nay là C03) Bộ C4 đã cử cán bộ thuộc Phòng 1 và Phòng 5 đến doanh nghiệp để xác minh và thu thập tài liệu, vụ án đang trong giai đoạn điều tra, xem xét.
Bị đơn là Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P được Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Triệu Tú V trình bày: Số tiền góp vốn là 164.360.000 đồng mà ông Nguyễn Khắc H1 đã nộp cho Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam theo Hợp đồng góp vốn đầu tư số 141/HĐGV-CNPN ngày 20 tháng 9 năm 2007 là tài sản chung vợ chồng của bà V và ông H1 trong thời kỳ hôn nhân, thống nhất với yêu cầu của ông H1 và không có yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị Ngọc B2 trình bày: Số tiền góp vốn là 137.340.000 đồng mà ông Dương Cửu L đã nộp cho Công ty Vật tư Vận tải và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam theo Hợp đồng góp vốn đầu tư số 17/HĐGV-CNPN ngày 18 tháng 9 năm 2004 là tài sản chung vợ chồng của bà B2 và ông L trong thời kỳ hôn nhân, thống nhất với yêu cầu của ông L và không có yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức L1 trình bày: Số tiền góp vốn là 164.360.000 đồng mà bà Lương Thị B đã nộp cho Công ty Vật tư Vận tải và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam theo Hợp đồng góp vốn đầu tư số 167/HĐGV-CNPN ngày 15 tháng 10 năm 2007 là tài sản chung vợ chồng của ông L1 và bà B trong thời kỳ hôn nhân, thống nhất với yêu cầu của bà B và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 197/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 92, 121, 128, 137 và 305 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Căn cứ Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai năm 2003;
- Căn cứ các điều 7, 16 và 19 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006;
- Căn cứ Điều 25 của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Điều 37 của Luật Doanh nghiệp năm 2005;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là bà Trần Xuân H, ông Nguyễn Khắc H1, bà Phan Thị Kim C, ông Lê Hoàng D, ông Dương Cửu L, bà Lương Thị B và bà Lê Phạm Li N:
Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 18/HĐGV-CNPN ngày 14 tháng 4 năm 2005 giữa bà Trần Xuân H và Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam là vô hiệu. Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 có nghĩa vụ trả cho bà Trần Xuân H tổng số tiền là 273.330.750 đồng (hai trăm bảy mươi ba triệu ba trăm ba mươi ngàn bảy trăm năm mươi đồng), trong đó, tiền góp vốn là 115.500.000 đồng, tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 đến ngày 28 tháng 9 năm 2023 là 157.830.750 đồng.
Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 141/HĐGV-CNPN ngày 20 tháng 9 năm 2007 giữa ông Nguyễn Khắc H1 và Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam là vô hiệu. Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Khắc H1 tổng số tiền là 388.957.940 đồng (ba trăm tám mươi tám triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn chín trăm bốn mươi đồng), trong đó, tiền góp vốn là 164.360.000 đồng, tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 đến ngày 28 tháng 9 năm 2023 là 224.597.940 đồng.
Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 65/HĐGV-CNPN ngày 22 tháng 10 năm 2004 giữa bà Phan Thị Kim C và Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam là vô hiệu. Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Kim C tổng số tiền là 378.640.000 đồng (ba trăm bảy mươi tám triệu sáu trăm bốn mươi ngàn đồng), trong đó, tiền góp vốn là 160.000.000 đồng, tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 đến ngày 28 tháng 9 năm 2023 là 218.640.000 đồng.
Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 25/HĐGV-CNPN ngày 09 tháng 5 năm 2005 giữa ông Lê Hoàng D và Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam là vô hiệu. Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 có nghĩa vụ trả cho ông Lê Hoàng D tổng số tiền là 341.959.250 đồng (ba trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm năm mươi chín ngàn hai trăm năm mươi đồng), trong đó, tiền góp vốn là 144.500.000 đồng, tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 đến ngày 28 tháng 9 năm 2023 là 197.459.250 đồng.
Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 17/HĐGV-CNPN ngày 18 tháng 9 năm 2004 giữa ông Dương Cửu L và Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam là vô hiệu. Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 có nghĩa vụ trả cho ông Dương Cửu L tổng số tiền là 325.015.110 đồng (ba trăm hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm ngàn một trăm mười đồng), trong đó, tiền góp vốn là 137.340.000 đồng, tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 đến ngày 28 tháng 9 năm 2023 là 187.675.110 đồng.
Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 167/HĐGV-CNPN ngày 15 tháng 10 năm 2007 giữa bà Lương Thị B và Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam là vô hiệu. Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 có nghĩa vụ trả cho bà Lương Thị B tổng số tiền là 388.957.940 đồng (ba trăm tám mươi tám triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn chín trăm bốn mươi đồng), trong đó, tiền góp vốn là 164.360.000 đồng, tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 đến ngày 28 tháng 9 năm 2023 là 224.597.940 đồng.
Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 95/HĐGV-CNPN ngày 29 tháng 10 năm 2004 giữa bà Lê Phạm Li N và Công ty V3 và Xây dựng Công trình Giao thông (Công ty V3) - Chi nhánh phía Nam là vô hiệu. Buộc Công ty TNHH Một thành viên V3 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Phạm Li N tổng số tiền là 306.875.888 đồng (ba trăm lẻ sáu triệu tám trăm bảy mươi lăm ngàn tám trăm tám mươi tám đồng), trong đó, tiền góp vốn là 129.675.000 đồng, tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 đến ngày 28 tháng 9 năm 2023 là 177.200.888 đồng.
Thi hành án ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, tại cơ quan Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 80.074.738 đồng (tám mươi triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn bảy trăm ba mươi tám đồng).
Trả lại cho bà Trần Xuân H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.440.000 đồng (bốn triệu bốn trăm bốn mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AC/2010/02100 ngày 22 tháng 02 năm 2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trả lại cho ông Nguyễn Khắc H1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.425.000 đồng (mười một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AC/2010/02115 ngày 04 tháng 3 năm 2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trả lại cho bà Phan Thị Kim C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số NO 008241 ngày 18 tháng 11 năm 2010 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trả lại cho ông Lê Hoàng D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.522.000 đồng (năm triệu năm trăm hai mươi hai ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AC/2010/02095 ngày 22 tháng 02 năm 2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trả lại cho ông Dương Cửu L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.547.000 đồng (năm triệu năm trăm bốn mươi bảy ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AC/2010/02096 ngày 22 tháng 02 năm 2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trả lại cho bà Lương Thị B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.725.000 đồng (mười triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AC/2010/02097 ngày 22 tháng 02 năm 2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trả lại cho bà Lê Phạm Li N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.242.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AC/2010/02614 ngày 09 tháng 3 năm 2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Án phí Dân sự phúc thẩm: Công ty TNHH Một thành viên V3 và Xây dựng phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng nhưng được cấn trừ tiền án phí phúc thẩm đã tạm nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010981 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ khi tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Huyền Phương |
Bản án số 470/2024/DS-PT ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng góp vốn đầu tư
- Số bản án: 470/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp vốn đầu tư
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp vốn đầu tư
