Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 470/2024/DS-ST

Ngày: 23 – 7 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
  2. Ông Nguyễn Đình Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Diệu T – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 338/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 627/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 626/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở: Số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đức T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản uỷ quyền số 4165/2023/UQ-TGĐ ngày 01/12/2023) (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số B đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S do ông Trần Đức T1 làm đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 20/9/2018, ông Nguyễn Thanh T2 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Trên cơ sở Hợp đồng sử dụng thẻ, Ngân hàng đã cấp cho ông T2 thẻ tín dụng số thẻ 436438-3879, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,4%/tháng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Ông T2 phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thì thứ tự ưu tiên thanh toán được áp dụng như sau:

  • + Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước;
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;
  • + Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ;
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ khi được cấp thẻ tín dụng, ông T2 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.012.503.630 đồng và đã thanh toán được tổng số tiền là 968.673.404 đồng. Do ông T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn từ ngày 16/12/2020. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 59.700.953 đồng thành nợ gốc, áp dụng lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Tính đến ngày 23/7/2024, ông T2 còn nợ tổng số tiền là 153.980.509 đồng, trong đó nợ gốc là 59.700.953 đồng, nợ lãi quá hạn là 94.279.556 đồng.

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 59.700.953 đồng với lãi suất quá hạn là 3.6%/tháng (2.4% x 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Ngân hàng nhiều lần yêu cầu ông T2 thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ nhưng ông T2 vẫn không thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh T2 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/7/2024 là 153.980.509 đồng, trong đó: Nợ gốc là 59.700.953 đồng, nợ lãi quá hạn là 94.279.556 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu ông T2 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/7/2024 cho đến ngày trả hết nợ vay theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng.

Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đương sự cho ông Nguyễn Thanh T2 nhưng phía bị đơn không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Nguyên đơn: Có đơn xin vắng mặt.
  • - Bị đơn: Vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP S, buộc ông Nguyễn Thanh T2 có nghĩa vụ thanh toán tiền còn nợ cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/7/2024 là 153.980.509 đồng (một trăm năm mươi ba triệu, chín trăm tám mươi nghìn, năm trăm lẻ chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 59.700.953 đồng, nợ lãi quá hạn là 94.279.556 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu ông T2 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/7/2024 cho đến ngày trả hết nợ vay theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng.

- Về án phí: Bị đơn phải chịu và tính theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2023 của nguyên đơn, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/9/2018; Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 10/6/2024. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Do ông Nguyễn Thanh T2 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông T2.

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Tại các thông báo này cũng thể hiện rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông T2 không có mặt, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ, văn bản trình bày ý kiến về vụ án, cũng như không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông T2 phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về yêu cầu của các đương sự:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T2 thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 23/7/2024 là 153.980.509 đồng, trong đó: Nợ gốc là 59.700.953 đồng, nợ lãi quá hạn là 94.279.556 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 24/7/2024 cho đến ngày trả hết nợ theo mức lãi suất đã được thỏa thuận trong hợp đồng.

Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/9/2018 và lời khai của đại diện nguyên đơn thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 401 và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015

Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn của ông T2 đã vi phạm quy định của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; vi phạm Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015

Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N về việc quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì Hội đồng xét xử xét thấy hai bên thỏa thuận mức lãi suất, lãi suất quá hạn và phạt vi phạm phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông T2 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

- Về thời hạn và phương thức thanh toán: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T2 thanh toán số tiền còn nợ một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu, đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông T2 thanh toán số tiền trên một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa hôm nay, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng là 153.980.509 đồng, do đó án phí ông T2 phải chịu là 7.699.025 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng toàn bộ tiền tạm ứng án phí là 2.989.821 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0023098 ngày 30/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280, Điều 385, Điều 401, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 21 và Điều 22 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N về việc quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S:

Buộc ông Nguyễn Thanh T2 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 153.980.509 đồng (một trăm năm mươi ba triệu, chín trăm tám mươi nghìn, năm trăm lẻ chín đồng), trong đó nợ gốc là 59.700.953 đồng, lãi quá hạn là 94.279.556 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Thời hạn thanh toán: Thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Địa điểm thi hành: Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Thanh T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.699.025 đồng (bảy triệu, sáu trăm chín mươi chín nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng).

- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ tiền tạm ứng án phí là 2.989.821 đồng (hai triệu, chín trăm tám mươi chín nghìn, tám trăm hai mươi mốt đồng) mà Ngân hàng TMCP S đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0023098 ngày 30/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3/ Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 470/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 470/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN TOÀN BỘ YÊU CẦU
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger