Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 470/2024/DS-ST

Ngày: 07/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Công Chiếm
  • 2. Bà Nguyễn Thị Mây

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lường Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 840/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 981/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)

    Địa chỉ trụ sở chính: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Trần Minh N, sinh năm 1982

    Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

    Theo giấy ủy quyền số 240/2024/GUQ-MAFC, ngày 27/5/2024

  2. Bị đơn: Ông Đặng Tăng Thành N1 và bà Nguyễn Ngọc Hồng N2

    Cùng địa chỉ: 1 đường H, Khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 15/12/2022, văn bản trình bày ý kiến ngày 10/4/2024 và Bảng tính lãi ngày 15/7/2024 thì người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn - ông Nguyễn Trần Minh N trình bày:

Ngày 15/11/2018 Công ty T (viết tắt MAFC) và ông Đặng Tăng Thành N1, bà Nguyễn Ngọc Hồng N2 có ký kết với nhau Hợp đồng tín dụng số 120/2018/HĐTD-MAFC. Theo nội dung hợp đồng thì M đồng ý cho ông N1 và bà N2 vay số tiền 503.000.000 đồng; mục đích vay mua xe ô tô trả góp; thời hạn vay 72 tháng; mức lãi suất áp dụng cố định là 11%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay, ông N1 và bà N2 đồng ý thế chấp cho MAFC tài sản bảo đảm là xe oto có đặc điểm ( nhãn hiệu: Honda, số loại: city, loại xe oto con màu trắng, biển số 51G-842.05, số khung RLHGM6660JY804481; số máy: L15Z12333009; giấy chứng nhận đăng ký số 414756) thông qua Hợp đồng thế chấp số 120/2018/HĐTC-MAFC ngày 15/11/2018 đã được đăng ký bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi vay ông N1 và bà N2 chỉ thanh toán được tiền nợ gốc là 127.420.653 đồng, tiền lãi là 97.357.961 đồng, tiền lãi quá hạn 206.239 đồng. Sau đó thì vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Nay, Công ty T (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Tăng Thành N1, bà Nguyễn Ngọc Hồng N2 có trách nhiệm trả số tiền còn nợ tính đến ngày 07/8/2024 là 594.333.107 đồng. Trong đó vốn gốc là 375.579.347 đồng, tiền lãi 97.991.753 đồng, tiền lãi quá hạn 120.762.007 đồng. Ngoài ra, ông N1 và bà N2 vẫn phải tiếp tục chịu số tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Trong trường hợp ông N1 và bà N2 không thanh toán được nợ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, nếu tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì ông N1 và bà N2 vẫn phải tiếp tục thanh toán cho đến khi trả xong khoản nợ.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên ý kiến yêu cầu như đã trình bày: yêu cầu ông N1 và bà N2 thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 07/8/2024 là 594.333.107 đồng. Trong đó vốn gốc là 375.579.347 đồng, tiền lãi 97.991.753 đồng, tiền lãi quá hạn 120.762.007 đồng

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 203 BLTTDS năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Công ty T (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu ông Đặng Tăng Thành N1 và bà Nguyễn Ngọc Hồng N2 phải trả tiền nợ cho công ty theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng tín dụng vay tài sản

Theo xác nhận của Công an phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện “ hai đương sự Đặng Tăng Thành N1 và Nguyễn Ngọc Hồng N2 có hộ khẩu thường trú tại 1 đường H, Khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2019 đến nay, đi đâu không rõ”. Căn cứ theo sổ hộ khẩu số 21220029336 do Công an Q cấp ngày 02/11/2009 và hợp đồng tín dụng thể hiện các đương sự có địa chỉ như trên, nên việc ông N1 và bà N2 bán nhà đi khỏi địa phương thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho nguời khởi kiện biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a Khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn Đặng Tăng Thành N1 và Nguyễn Ngọc Hồng N2 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện ông N1 và bà N2 không chấp hành pháp luật, không hợp tác với Tòa án, làm cho vụ án bị kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Căn cứ theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

3. Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 15/11/2018 Công ty T (viết tắt MAFC) và ông Đặng Tăng Thành N1, bà Nguyễn Ngọc Hồng N2 có ký kết với nhau Hợp đồng tín dụng số 120/2018/HĐTD-MAFC. Nội dung hợp đồng thì M đồng ý cho ông N1 và bà N2 vay số tiền 503.000.000 đồng; mục đích vay mua xe ô tô trả góp; thời hạn vay 72 tháng; mức lãi suất áp dụng cố định là 11%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay, ông N1 và bà N2 đồng ý thế chấp cho MAFC tài sản bảo đảm là xe oto có đặc điểm ( nhãn hiệu: Honda, số loại: city, loại xe oto con màu trắng, biển số 51G-842.05, số khung RLHGM6660JY804481; số máy: L15Z12333009; giấy chứng nhận đăng ký số 414756) thông qua Hợp đồng thế chấp số 120/2018/HĐTC-MAFC ngày 15/11/2018 đã được đăng ký bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Hợp đồng tín dụng số 120/2018/HĐTD-MAFC, ngày 15/11/2018 là hợp đồng được ký kết giữa Công ty T (viết tắt MAFC) và ông Đặng Tăng Thành N1, bà Nguyễn Ngọc Hồng N2. Hợp đồng được lập thành văn bản và có chữ ký của các bên. Căn cứ theo quy định tại các điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, hợp đồng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung các thỏa thuận.

Bị đơn vay tiền của nguyên đơn nhưng đã không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với thỏa thuận của các bên, đồng thời phù hợp với các Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo nguyên đơn thì tính đến ngày 07/8/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền là 594.333.107 đồng. Trong đó vốn gốc là 375.579.347 đồng, tiền lãi 97.991.753 đồng, tiền lãi quá hạn 120.762.007 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 01 lần toàn bộ khoản nợ, ngoài ra bị đơn vẫn phải chịu các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng mà hai bên ký kết cho đến khi trả dứt nợ.

Trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ thì đề nghị phát mãi tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp để thực hiện thanh toán toàn bộ khoản nợ

Tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 còn có quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh như sau: Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn nhưng bị đơn đã không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án tiếp tục triệu tập các đương sự tham gia các phiên hòa giải và bị đơn thườn xuyên, liên tục vắng mặt không có lý do, nên việc hòa giải đã không thể tiến hành. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là hoàn toàn phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Các tình tiết, sự kiện do nguyên đơn đưa ra không bị bất kỳ đương sự nào phản đối, nên nguyên đơn không cần phải chứng minh gì thêm.

Theo quy định tại Điều 4 của hợp đồng tín dụng mà hai bên ký kết thì khách hàng phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn nợ gốc và tiền lãi, trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, công ty có quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển sang nợ quá hạn. Do đó căn cứ vào các Điều 274, Điều 275, Điều 280, Điều 282 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sữa đổi bổ sung năm 2017; Điều 13 Thông báo số 39/2016/TT-NHNNH ngày 30/12/2012 được sữa đổi bổ sung năm Thông tư 06/2023/TT-NHNN, ngày 28/6/2023 thì hợp đồng tín dụng giữa các bên là sự tụ nguyện thỏa thuận về mặt lãi suất, đồng thời mức lãi suất này phù hợp với các quy định của pháp luật nên có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cần phải buộc bị đơn giao trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng hai bên ký kết là 594.333.107 đồng. Trong đó vốn gốc là 375.579.347 đồng, tiền lãi 97.991.753 đồng, tiền lãi quá hạn 120.762.007 đồng. Thực hiện trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Do bị đơn vi phạm hợp đồng nên kể từ ngày 08/8/2024 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền thì bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên số nợ chưa thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Hợp đồng tín dụng. Trường hợp các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Nhận thấy việc thế chấp tài sản bảo đảm được thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 319 BLDS năm 2015, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sữa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163. Do đó hợp đồng thế chấp bảo đảm về chủ thể và nội dung nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn làm việc, nhưng bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do. Nguyên đơn trình bày tài sản thế chấp là xe ô tô Honda, số loại: city đang do bị đơn quản lý, sử dụng. Nhưng bị đơn đã không đến Tòa làm việc, không hợp tác nên việc xem xét thẩm định tài sản xe ô tô Honda đã không thể thực hiện.

4. Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là: 27.773.324 đồng.

Hoàn trả cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí là 11.614.721 đồng theo biên lai thu tiền án phí lệ phí Tòa án số 0005187, ngày 03/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 1 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 117, 119, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163.

Căn cứ vào Luật phí, lệ phí năm 2015;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T

1.1. Buộc ông Đặng Tăng Thành N1 và bà Nguyễn Ngọc Hồng N2 thanh toán 01 lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 120/2018/HĐTD-MAFC do hai bên xác lập ngày 15/11/2018 là 594.333.107 đồng. Trong đó vốn gốc là 375.579.347 đồng, tiền lãi 97.991.753 đồng, tiền lãi quá hạn 120.762.007 đồng.

1.2 Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Đặng Tăng Thành N1 và bà Nguyễn Ngọc Hồng N2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

1.3 Trong trường hợp, ông Đặng Tăng Thành N1 và bà Nguyễn Ngọc Hồng N2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp mà hai bên xác lập ngày 15/11/2018 để thu hồi toàn bộ số nợ vốn và lãi cho nguyên đơn. Nếu tài sản phát mãi không đủ thu hồi tiền để trả nợ cho Công ty theo yêu cầu khởi kiện thì ông N1, bà N2 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả nợ xong khoản nợ cho nguyên đơn.

2. Về án phí:

- Ông Đặng Tăng Thành N1 và bà Nguyễn Ngọc Hồng N2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27.773.324 (hai mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi ba ngàn ba trăm hai mươi bốn) đồng.

- Hoàn trả cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí là 11.614.721 (mười một triệu sáu trăm mười bốn ngàn bảy trăm hai mươi mốt) đồng theo biên lai thu tiền án phí lệ phí Tòa án số 0005187, ngày 03/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 và năm 2022 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 470/2024/DS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 470/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ÁN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger