Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ N

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 470/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 16-11-2023

V/v: Ly hôn, nuôi con chung giữa

anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
  2. Bà Vương Thị Minh Tân

- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Thu Hằng – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Nam – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 356/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1984; nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 06-7-2023, bản tự khai ngày 11-10-2023, trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn D trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị H tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 12-4-2007. Vợ chồng anh chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng không hoà hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm nên thường xuyên cãi chửi nhau. Hiện nay vợ chồng anh đang sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với chị Trần Thị H.

    Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 15-3-2008 (Giới tính: Nam) và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06-9-2016 (Giới tính: Nữ). Hiện hai con chung đang sống với vợ chồng anh chị tại thôn Đông, Xóm Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn P; còn chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồng N. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị H không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

    Về tài sản và công nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.

  2. Bị đơn là chị Trần Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án, nhưng chị H không đến làm việc nên không có quan điểm giải quyết vụ án.
  3. Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 06-10-2023 của Toà án tại địa phương nơi cư trú của anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H xác nhận: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn D cư trú tại thôn Đông – Đồng Ngãi, xã N, thành phố N. Chị H và anh D có 02 con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 15-3-2008 (Giới tính: Nam) và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06-9-2016 (Giới tính: Nữ). Hiện hai cháu đang sống cùng anh D và chị Hạnh. Do anh D và chị H không báo cáo nên chính quyền địa phương không được biết nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh chị.
  4. Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 11-10-2023 của các con chung: Nếu bố mẹ ly hôn, cháu Nguyễn Hồng N có nguyện vọng được mẹ là chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Nguyễn Văn P có nguyện vọng được bố là anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng.
  5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên toà:

    Về tố tụng:

    Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn D đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là chị Trần Thị H chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Về nội dung:

    Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn D. Về con chung, căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Văn P cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Hồng N cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh D và chị H không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản chung và công nợ: Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

    Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn D phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn D có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với chị Trần Thị H. Xét thấy, tranh chấp giữa anh D và chị H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Trần Thị H cư trú tại Xóm Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.
    2. Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn là chị Trần Thị H đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  2. Về nội dung vụ án.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 12-4-2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.

      Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không hoà hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Anh D và chị H hiện đang sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị H không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn D giữ nguyên quan điểm đề nghị giải quyết ly hôn với chị Trần Thị H.

      Xét thấy quan hệ hôn nhân của anh D và chị H mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H.

    2. Về nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H có 02 con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 15-3-2008 (Giới tính: Nam) và Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06-9-2016 (Giới tính: Nữ).

      Hiện tại hai con chung đang sống với anh D và chị H tại thôn Đông – Đồng Ngãi, xã N, thành phố N. Anh D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn P; đề nghị giao chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồng N. Đồng thời, cháu Nguyễn Văn P cũng có nguyện vọng được bố trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Nguyễn Hồng N có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là chị Trần Thị H không đến Toà án làm việc, không có quan điểm về việc giao nuôi con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Văn P cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Hồng N cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn D, mỗi người nuôi một con chung nên hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

    3. Về tài sản chung và công nợ chung: Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
    4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn D phải nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H.
  2. Về nuôi con chung:
    • - Giao cháu Nguyễn Văn P, sinh ngày 15-3-2008 (Giới tính: Nam) cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
    • - Giao cháu Nguyễn Hồng N, sinh ngày 06-9-2016 (Giới tính: Nữ) cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn). Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) anh D đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000353 ngày 03 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Nam Định.
  4. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị H đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Nam Định
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - UBND xã N, TP. Nam Định (ĐK ngày 12-4-2007);
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Bang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 470/2023/HNGĐ-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 470/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D và Trần Thị H (Ly hôn, nuôi con chung)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger