|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 470/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07/3/2025. Về việc “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng;
Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm số: 2987/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/12/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 379/2025/QĐXXST-DS ngày 12/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Đăng Q, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Căn hộ D.02 Chung cư S, số B Đường A, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung Đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn ông Vũ Đăng Q trình bày: Về quan hệ hôn nhân, ông Q và bà Nguyễn Thị Mỹ H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển 01/2012, ngày 09/5/2012. Sau khoảng thời gian chung sống, cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, hai người bất đồng quan điểm sống, sau đó hai vợ chồng sống ly thân. Ông Q xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ H.
Về con chung: Ông Q khai ông và bà H có 02 người con chung gồm: Vũ Tố Q1 (sinh ngày 23/11/2012) và Vũ Đăng Q2 (sinh ngày 14/01/2016). Ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung Vũ Tố Q1 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao con chung Vũ Đăng Q2 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; hai bên tự thỏa thuận về cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Q khai ông và bà H không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đồng thời, ông Q có đơn yêu cầu không hòa giải đoàn tụ và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Theo nội dung bản tự khai, bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày: Bà H xác nhận những lời trình bày của ông Q về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay ông Q yêu cầu ly hôn, bà H đồng ý ly hôn; bà H cũng đồng ý yêu cầu của ông Q về việc giao con chung Vũ Tố Q1 cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao con chung Vũ Đăng Q2 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; hai bên tự thỏa thuận về cấp dưỡng cho con; hai bên tự thỏa thuận về tài sản chung; hai bên không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Đồng thời, bà H cũng yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ.
- Theo Bản trình bày ý kiến của con chung trên 07 tuổi – cháu Vũ Tổ Q1 trình bày: Trường hợp cha mẹ cháu không còn sống chung với nhau, cháu có nguyện vọng được sống chung với ba – ông Vũ Đăng Q.
- Theo Bản trình bày ý kiến của con chung trên 07 tuổi – cháu Vũ Đăng Q2 trình bày: Trường hợp cha mẹ cháu không còn sống chung với nhau, cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ – bà Nguyễn Thị Mỹ H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn - ông Vũ Đăng Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - bà Nguyễn Thị Mỹ H, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
2
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét Bản tự khai, Đơn đề nghị không hòa giải đoàn tụ và xin vắng mặt của đương sự đã được thực hiện theo quy định nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của hai bên và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định ông Vũ Đăng Q và bà Nguyễn Thị Mỹ H là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển 01/2012, đăng ký ngày 09/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, hai người cũng đã sống ly thân nên tình cảm vợ chồng không còn. Do hai người không có khả năng đoàn tụ, hai bên cũng vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, không có cuộc sống chung vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà H là có cơ sở. Mặt khác, tại bản tự khai bà H cũng đồng ý ly hôn với ông Q, điều đó thể hiện cả hai bên không có ý muốn đoàn tụ với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của ông Q là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời thừa nhận của hai bên, xác định ông Q và bà H có 02 người con chung gồm: Vũ Tố Q1 (sinh ngày 23/11/2012) và Vũ Đăng Q2 (sinh ngày 14/01/2016). Ông Q yêu cầu sau khi ly hôn, giao con chung Vũ Tố Q1 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao con chung Vũ Đăng Q2 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; hai bên tự thỏa thuận về cấp dưỡng cho con. Xét thấy, theo bản tự khai ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, cháu Vũ Tố Q1 có nguện vọng được sống chung với cha, cháu Vũ Đăng Q2 có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đồng thời, tại bản tự khai, bà H cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của ông Q, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên. Giao hai con chung cháu Vũ Đăng Q2 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, giao con chung cháu Vũ
3
Tố Q1 cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; hai bên tự thỏa thuận về cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn – ông Vũ Đăng Q phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 55; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Vũ Đăng Q.
-
Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Đăng Q ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ H. Quan hệ hôn nhân giữa ông Q và bà H (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển 01/2012, đăng ký ngày 09/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Ông Vũ Đăng Q và bà Nguyễn Thị Mỹ H có 02 (hai) người con chung gồm: Vũ Tố Q1 (sinh ngày 23/11/2012) và Vũ Đăng Q2 (sinh ngày 14/01/2016). Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Q và bà H về việc giao con chung Vũ Tố Q1 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao con chung Vũ Đăng Q2 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
-
4
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
-
- Về cấp dưỡng: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
-
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
-
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Q phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông Q đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0068084 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Q đã nộp đủ án phí.
-
Về quyền, thời hạn kháng cáo: Ông Vũ Đăng Q, bà Nguyễn Thị Mỹ H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.
-
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phan Thị Ngọc Phú |
5
Bản án số 470/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 470/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Vũ Đăng Q yêu cầu ly hôn Bà Nguyễn Thị Mỹ H
