|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 470/2025/DS -ST Ngày: 11/4/2025 V/v tranh chấp lối đi chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi
- Bà Nguyễn Hương Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1092/2025/TLST- DS ngày 24 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 965/2025/QĐXXST - DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1979/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Kiều Văn D, sinh năm: 1965;
- Bị đơn: Ông Kiều Tấn L, sinh năm: 1963 (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Minh T năm: 1965 (có
Địa chỉ: Số C Đường số C, Khu phố F, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Ngô Thị B năm: 1996 là đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 23/4/2024) (có mặt);
Địa chỉ liên lạc: Số D đường L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Số C Đường số C, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số C Đường số C, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/5/2024, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn – ông Kiều Văn D1 đại diện theo ủy quyền là bà Ngô Thị B1 bày:
Năm 1988, cha ông Kiều Văn D2 ông Kiều V T1tặng cho ông Kiều Văn D3 phần đất có diện tích khoảng hơn 250m² (thỏa thuận miệng). Nay thuộc thửa đất số 12; Tờ bản đồ số 95 tại địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Kiều Văn D1 xây dựng 01 căn nhà và rào khuôn viên phần đất bằng trụ bê tông có kẽm gai và có trồng một hàng râm bụt để bụi không bay vào nhà.
Năm 1991, ông Kiều Tấn L1 anh ruột của ông Kiều Văn D4 cha ông Kiều Văn D2 ông Kiều V T1tặng cho một phần đất liền ranh với diện tích đất của ông Kiều Văn D5 thuộc thửa thuộc Thửa đất số: 11, Tờ bản đồ số: 95, tại địa chỉ: Số C, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L13 xây dựng 01 căn nhà trên phần đất. Vì khó khăn trong đi lại nên ông L13 trao đổi miệng với ông Kiều Văn D6 nghị mở lối đi sang phần đất nhà ông Kiều Văn D7 thuận tiện đi ra đường làng (hiện nay là Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vì nể tình anh em ruột nên ông Kiều Văn D8 ý cho ông L2 lối đi sang phần đất nhà ông Kiều Văn D9 thể: Ông Kiều Văn D10 dời hàng rào vào bên trong khoảng 40,25 m² (chiều ngang 2,3m và chiều dài:17,5m) để đi chung ra Đường số C, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố H để lại hàng rào trụ bê tông kẽm gai, cây dâm bụt phía bên ngoài. Gia đình ông Kiều Văn D11 đi theo lối đi này từ năm 1991 cho đến nay.
Đến năm 2018, Chung cư L(Địa chỉ: Số A số C, phường T, thành phố T, Thành phố H dựng đường đi nội bộ cán nhựa của Chung cư ở hẻm phía trước nhà ông Kiều Văn D12 nhà ông LÔng L3 mở 2 cổng khoảng 4m ra đường nội bộ của Chung cư. Từ đó đến nay, ông L4 còn đi lối đi phía trước nhà ông Kiều Văn D13.
Năm 2020, ông Kiều Văn D10 tháo dỡ hàng rào trụ bê tông kẽm gai và hàng râm bụt để kết nối với đường nội bộ Chung cư Lvà ông Kiều Văn D10 làm lại lối đi bằng bê tông. Ông L16 rằng đây là lối đi riêng của nhà L5 tranh chấp, cản trở, không đồng ý cho ông Kiều Văn D14 lối đi này. Vào đầu năm 2021, ông Kiều Văn D10 kiểm tra nội nghiệp đối với căn nhà và đất mà ông Kiều Văn D15 quản lý, sử dụng thuộc một phần Thửa số 12; Tờ bản đồ số 95 tại địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất bao gồm phần lối đi chung nêu trên. Tuy nhiên, ngày 11/5/2021 và ngày 04/6/2021, Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố H ông Kiều Văn D16 làm việc về “Tranh chấp lối đi chung” giữa ông Kiều Văn D12 ông LNhưng ông Kiều Văn D17 đến làm việc vì ông D18 đây là việc của gia đình nên ông D12 ông L6 quyết được.
Ngày 07/6/2021, ông Kiều Văn D19 được Thông báo số 200/TB-UBND về việc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố H nội dung thông báo có hướng dẫn ông Kiều Văn D20 hệ với Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức để xem xét giải quyết vụ việc trên.
Từ những cơ sở trên, ông Kiều Văn D19 thấy hành vi của ông Kiều Tấn L7 xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Kiều Văn D21 đó, ông Kiều Văn D22 đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận phần đất trước nhà ông Kiều Văn D7 đi ra Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố H lối đi chung theo quy định pháp luật.
Bị đơn - ông Kiều Tấn L đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của ông L đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay các đương sự có ý kiến như sau:
+ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến như đã trình bày. Đề nghị Tòa án công nhận phần đất có diện tích khoảng 40 m² thuộc Thửa đất số 11,12 Tờ bản đồ số 95 (TL 2005); địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là lối đi chung.
+ Bị đơn – ông Kiều Tấn L8 mặt tại phiên toà.
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bàn Trần Minh T1 đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về mặt tố tụng:
- Về mặt nội dung:
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng tư cách đương sự; Thời hiệu khởi kiện vẫn còn; Thủ tục thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản đúng pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật tố tụng, thủ tục khai mạc phiên tòa, tranh tụng đúng pháp luật. Các đương sự tham gia tố tụng đúng thành phần và chấp hành đúng pháp luật. Tuy nhiên, thẩm phán chưa đảm bảo quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Kiều Văn D23 nhận phần đất có diện tích khoảng 40 m² thuộc Thửa đất số 11,12 Tờ bản đồ số 95 (TL 2005); địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là lối đi chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn - ông Kiều Văn D khởi kiện bị đơn - ông Kiều Tấn L về tranh chấp lối đi chung. Căn cứ khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là tranh chấp về đất đai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn - ông Kiều Tấn L có hộ khẩu thường trú và hiện đang thực tế cư trú tại C Đường số C, phường T, thành phố T Tại các thời điểm Tòa án thực hiện việc tống đạt, ông L lúc nhận trực tiếp văn bản tố tụng, lúc không có mặt ở nhà, không có ai khác nhận thay văn bản tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức phải tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định. Trong tất cả các lần Tòa án triệu tập, ông Kiều Tấn L đều vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bàn Trần Minh T1 đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[1.1] Về thủ tục tiền tố tụng: Đây là tranh chấp quyền sử dụng đất, đã thực hiện Hòa giải cơ sở theo quy định và đã được Ủy ban nhân dân phường T, nơi có đất tranh chấp hòa giải nhưng không thành.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công nhận phần đất có diện tích khoảng 40 m² thuộc Thửa đất số 11,12 Tờ bản đồ số 95 (TL 2005); địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là lối đi chung. Hội đồng xem xét như sau:
[2.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp:
[2.1.2] Theo công văn số 1139/UBND ngày 19/8/2024 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T trả lời Công văn số 4979/TATĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, nội dung liên quan đến nhà đất của ông Kiều Văn D24 một phần Thửa đất số 11, 12 Tờ bản đồ số 95 (địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Theo bản vẽ sơ đồ nhà đất được duyệt số 244/19/BN-CNTĐ ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Chi nhánh Văn phòng Đ:
“ Đất do ông Kiều V Tlsử dụng (không giấy tờ) từ trước năm 1975. Năm 1988, ông T1cho con là Kiều Văn Dsử dụng (văn bản cam kết của ông Kiều V Tlvà bà Nguyễn Thị S chứng thực số 1061 ngày 16/4/2021 của phòng C
Hiện trạng sử dụng đất theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất được duyệt số 244/19/BN-CNTĐ ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Chi nhánh Văn phòng đất đai quận T diện tích xây dựng 151m². Nhà do ông Kiều Văn D tự xây năm 1994, không giấy phép, không bị xử phạt. Năm 2001 có sửa chữa lại nhà không có giấy phép, không bị xử phạt. Năm 2012 có dựng thêm phần sân mái tôn và sử dụng đến nay.
Nhà đất tại địa chỉ C Đường số C, phường T, thành phố T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
[2.2] Về diện tích đất tranh chấp:
[2.2.1] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xác định diện tích đất tranh chấp là 40m² thuộc Thửa đất số 11, 12 Tờ bản đồ số 95 (TL 2005); địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, thành phố T Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 15/10/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ, thuộc Sở T2
Theo Công văn số 1539/UBND ngày 20/11/2024 của Ủy ban nhân dân phường T trả lời Công văn số 6472/2024/TATPTĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức về việc xác minh nguồn gốc đất đối với phần đất diện tích đất tranh chấp. Qua kiểm tra hồ sơ liên quan, Ủy ban nhân dân phường T ý kiến như sau:
“1. Nguồn gốc, quá trình sử dụng.
Phần diện tích 40m² nằm trong khu đất do ông Kiều V T1sử dụng (không giấy tờ) từ trước năm 1975. Năm 1988, ông T1cho con là ông Kiều Văn D25 dụng một phần đất diện tích khoảng 350m² (Văn bản cam kết của ông Kiều V Tlvà bà Nguyễn Thị S chứng thực số 1061 ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Phòng CNăm 1992, ông Tltiếp tục cho con là ông Kiều Tấn L9 dụng một phần đất nằm phía bên trong, giáp với phần đất đã cho ông D26 1988. Gia đình có thỏa thuận (không giấy tờ) ông D27 một phần đất giáp đường hẻm trải đá để ông L10 lối đi. Lối đi này chỉ có 02 hộ sử dụng là ông D12 ông L Năm 2018, dự án chung cư L đường trải nhựa giáp với lối đi của ông D12 ông L
2. Hiện trạng sử dụng.
Hiện trạng sử dụng phần đất diện tích 40m² là lề đường xi măng, vị trí trước nhà ông D28 tế nhà đất ông L11 với đường trải nhựa của chung cư Lvà ông L12 trực tiếp ra đường trải nhựa.
3. Tình trạng tranh chấp.
Năm 2021, ông Kiều Tấn L13 đơn tranh chấp phần đường đi tiếp giáp với phần đất ông Kiều Văn D6 nghị cấp giấy chứng nhận. Ủy ban nhân dân phường T tổ chức hòa giải ngày 11 tháng 5 năm 2021 và ngày 04 tháng 6 năm 2021, kết quả hòa giải không thành. Ngày 16 tháng 3 năm 2022, Ủy ban nhân dân thành phố T số 1415/UBND-TNMT về xử lý đơn của ông Kiều Tẩn L...”
[2.2.2] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CM 489024 cấp cho ông Kiều Tấn L14 vào sổ cấp GCN số CH 05032 ngày 17/12/2018, thể hiện phần diện tích đất đang tranh chấp là hẻm rải đá nằm trong ranh đường quy hoạch.
[2.2.3]. Qua xem xét thẩm định tại chỗ và Bản đồ đo vẽ hiện trạng, Hội đồng xét xử nhận thấy phần đất diện tích trang chấp 40m² là lề đường xi măng, vị trí trước nhà ông D và bọc hết phần đất phía trước nhà ông D. Thực tế nhà đất ông L11 với đường trải nhựa của Chung cư L ông L7 trổ cổng riêng để đi trực tiếp ra đường trải nhựa. Do đó, có cơ sở xác định phần diện tích đất tranh chấp 40m² thuộc Thửa đất số 11, 12 Tờ bản đồ số 95 (TL 2005); địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, Thành phố T Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 15/10/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ, thuộc Sở T2 Thành phố H là lối đi chung của 02 hộ sử dụng là ông D12 ông L. Do đó, yêu cầu công nhận phần diện tích đất trước nhà ông Kiều Văn D7 đi ra Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố H lối đi chung là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn - ông Kiều Văn D29 nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đã thực hiện xong chi phí này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[ 4] Về án phí: Ông Kiều Tấn L15 chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 96, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 4, Điều 101, Khoản 7 Điều 166, Điểm b Khoản 2 Điều 203 của Luật đất đai năm 2013.
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Kiều Văn D
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Công nhận phần diện tích đất qua đo đạc hiện trạng là 40m² thuộc Thửa đất số 11, 12 Tờ bản đồ số 95 (TL 2005); địa chỉ: Số C Đường số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 15/10/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ, thuộc Sở T2) là lối đi chung của hộ ông Kiều Văn D12 ông Kiều Tấn L16 đến khi có quy hoạch mới.
Các bên thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Nguyên đơn thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị đơn - ông Kiều Tấn L15 chịu án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Ông Kiều Tấn L17 đóng án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
|
- TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND thành phố Thủ Đức; - Chi cục THA dân sự thành phố Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án./. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 470/2025/DS-ST ngày 11/04/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 470/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu
