TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI ===*&*=== | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc -------*&*------- |
Bản án số: 470/2024/HNGĐ-ST Ngày 16/12/2024 V/v ly xin hôn giữa chị Lê Thị Hậu với anh Nguyễn Văn Tuấn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Mầu Thị Hải Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Lan; Ông Trần Văn Khánh
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký TAND huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 398/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXX- ST ngày 14 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 2001 (có mặt)
HKTT: thôn N, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội.
Chỗ ở hiện nay: thôn V, xã V, huyện M, tp ..
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T sinh năm 1988 (vắng mặt)
HKTT: thôn N, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 08/7/2024 và bản tự khai, các buổi hòa giải nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:
Chị Lê Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn T ngày 01/8/2019, có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện M, thành phố Hà Nội. Cưới xong chị H về nhà chồng làm dâu, ở chung với gia đình chồng. Quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, anh T chơi bời cờ bạc, gái gú, không quan tâm đến gia đình vợ con, không chịu khó làm ăn. Vợ chồng ly thân và chấm dứt quan hệ từ tháng 4/2024 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị H xác định tình cảm không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 06/4/2017; Nguyễn Việt A, sinh ngày 26/11/2018; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 19/3/2023. Vợ chồng ly hôn, chị H xin nuôi 03 con, yêu cầu anh T phải đóng góp nuôi con chung cùng chị. Hiện nay chị H làm công nhân thu nhập bình quân 10.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung; tài sản riêng, về đất canh tác, công sức, công nợ: chị H xác định không có không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Về thời gian kết hôn và thời gian chung sống như chị H trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, vợ chồng không đánh nhau hay chửi nhau gì. Do anh T nợ nần nên muốn đi làm ăn xa nhà để có công việc tốt hơn nên chị H ở nhà chán nản muốn ly hôn với anh T. Việc chị H có đơn xin ly hôn anh T không đồng ý vì lý do con còn nhỏ, anh không muốn mỗi đứa một nơi. Trường hợp chị H kiên quyết xin ly hôn anh T cũng nhất trí.
Về con chung; tài sản chung; tài sản riêng; đất canh tác; công sức; công nợ: Anh T1 không đồng ý ly hôn nên không trình bày quan điểm.
Tại phiên tòa chị H vẫn giữ quan điểm xin ly hôn anh T1, về con chung chị xin nuôi 03 con, chị H không yêu cầu anh T1 phải đóng góp nuôi con chung. Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công sức công nợ chị H xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Văn T đã được toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tại phiên toà. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H đối với anh Nguyễn Văn T.
Áp dụng Điều 51,56,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147,228,271,273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Về tình cảm: Cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: có 03 con chung Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 06/4/2017; Nguyễn Việt A, sinh ngày 26/11/2018; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 19/3/2023.
Giao cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục 02 con Nguyễn Thị Trà M và Nguyễn Hoàng N; Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con Nguyễn Việt A, kể từ tháng 12/2024 cho đến khi các con 18 tuổi trưởng thành nếu không có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn T vì chị H không yêu cầu. Chị H, anh T có quyền đi lại thăm hỏi chăm sóc con chung không ai được cản trở
Về tài sản chung vợ chồng, tài sản riêng, đất canh tác, công sức, công nợ không có không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm chị H phải chịu theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng: yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H với anh Nguyễn Văn T, hiện đang sinh sống tại địa chỉ thôn N, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
[2]. Về pháp luật áp dụng giải quyết vụ án: Ngày 08/7/2024, chị Lê Thị H có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn T. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án:
[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn T ngày 01/8/2019, trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện M, thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng, chị H cho rằng không hạnh phúc, nguyên nhân do anh T mải chơi bời, cờ bạc, không chịu khó làm ăn, không quan tâm đến gia đình vợ con, chị H khuyên bảo thì anh T không thay đổi còn nợ nần bên ngoài. Về phía anh T cho rằng do anh nợ nần nên phải đi làm ăn xa, chị H ở nhà chán nản muốn ly hôn anh. Việc chị H có đơn xin ly hôn một phần do lỗi của anh T nhưng anh không đồng ý vì các con còn nhỏ, anh T không muốn ly hôn, bản thân anh không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trường hợp chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng nhất trí.
Hội đồng xét xử nhận thấy mục đích hôn nhân giữa chị H và anh T không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị H có đơn xin ly hôn là có căn cứ phù hợp với Điều 51, 56 Luật HN&GĐ năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 06/4/2017; Nguyễn Việt A, sinh ngày 26/11/2018; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 19/3/2023. Vợ chồng ly hôn nguyện vọng của chị H xin được nuôi cả 3 con và không yêu cầu anh T phải đóng góp nuôi con chung cùng chị. Hiện nay chị H làm công nhân, thu nhập bình quân 10.000.000đ/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy chị H có việc làm và thu nhập ổn định, có nơi ở ổn định, để đảm bảo về học tập và sinh hoạt và phát triển bình thường của các con nên Hội đồng xét xử giao 03 con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 12/2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi trưởng thành nếu không có sự thay đổi khác. Về phía anh T qua bản tự khai, hiện nay anh T còn nợ tiền bên ngoài, công việc không ổn định lại đi làm ăn xa nhà nên tạm hoãn việc đóng góp nuôi con chung cho anh T đến khi nào chị H có đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hoặc các đương sự có đơn yêu cầu xin thay đổi nuôi con. Toà án thụ lý giải quyết bằng vụ kiện khác.
Anh T1 có quyền đi lại và thăm hỏi chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[6]. Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công nợ, công sức: chị H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật. Ngoài ra các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.
Xử. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H đối với anh Nguyễn Văn T.
1.Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
2.Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 06/4/2017; Nguyễn Việt A, sinh ngày 26/11/2018; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 19/3/2023.
Giao cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con Nguyễn Thị Trà M; Nguyễn Việt A; Nguyễn Hoàng N. Kể từ tháng 12/2024 cho đến khi từng con đủ 18 tuổi trưởng thành nếu không có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T vì chị H không có yêu cầu. Sau khi ly hôn anh T có quyền đi lại thăm hỏi chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công sức, công nợ: Chị H xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị Lê Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0053922 ngày 18/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Chị H không phải nộp bổ sung.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 này kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án niêm yết tại trụ sở UBND xã K, huyện M, thành phố Hà Nội.
Nơi nhận
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mầu Thị Hải Vân |
Bản án số 470/2024/HNGĐ-ST ngày 16/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hôn nhân và gia đình (ly hôn)
- Số bản án: 470/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh T do mâu thuẫn vợ chồng
