Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 470/2024/DS-PT

Ngày: 28/8/2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Nam Thành;

Bà Nguyễn Phương Hạnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Phạm Thị Nhạn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 266/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” do có kháng cáo của bị đơn đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9127/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Hứa Văn L, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Hà Xuân T (tên gọi khác Hà Văn T1), sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 là bà Phạm Thị Hoài A sinh năm 1992, CCCD số [...] do Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20/4/2021. Địa chỉ thường trú: K, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Hà Xuân T: Bà Nguyễn Thị Ngọc A1 – Văn phòng luật sư Phan T2 và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; có mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy A2 – Chức vụ: Chủ tịch. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Tiến D, chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, tỉnh Lạng Sơn (theo Giấy ủy quyền số 1387/GUQ-UBND ngày 07/6/2023); vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Minh P – Chức vụ: Chủ tịch. Người đại diện theo uỷ quyền: ông Mạc Khánh H sinh năm 1992, công chức địa chính xã B, có mặt.
  3. Bà Mã Thị L1, sinh năm 1963 (vợ Nguyên đơn Líu); vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Luật sư Lê Thị L2 - là người trợ giúp pháp lý cho bà Mã Thị L1, có mặt.
  4. Anh Hứa Văn C, sinh năm 1990 (con trai ông L); có mặt. Cùng địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  5. Bà V (V1) Thị D1, sinh năm 1966 (vợ ông T); vắng mặt.
  6. Anh Hà Phi V2, sinh năm 1987 (con trai ông T); vắng mặt.
  7. Chị Hà Thị Phương V3, sinh năm 1992 (con gái ông T); vắng mặt.
  8. Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1995 (con dâu ông T); vắng mặt.
  9. Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1955; vắng mặt và có lời khai đề nghị giải quyết vắng mặt bà.
  10. Ông Hà Văn Q, sinh năm 1982; vắng mặt.
  11. Chị Hà Thị L3, sinh năm 1990; vắng mặt.
  12. Anh Trương Viết L4, sinh năm 1987 (là con trai bà Hứa Thị N1), vắng mặt và có lời khai đề nghị giải quyết vắng mặt trong các phiên toà xét xử.
  13. Ông Hà Văn P1, sinh năm 1964; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  14. Ông Hà Văn Q1, sinh năm 1976; có mặt. Cùng địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  15. Chị Hứa Thị V4, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn (con gái ông L); vắng mặt.
  16. Chị Hứa Thị T3, sinh năm 1991 (con gái ông L); địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
  17. Chị Hứa Thị P2, sinh năm 1988 (con gái ông L); địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
  18. Người đại diện theo ủy quyền của chị Hứa Thị P2, Hứa Thị V4, Hứa Thị T3: Ông Hứa Văn L, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (theo Giấy ủy quyền ngày 10/4/2023); có mặt.
  19. Anh Hà Văn H1, sinh năm 1987 (con trai bà Hoàng Thị N), địa chỉ: Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Hứa Văn L trình bày:

Gia đình ông Hứa Văn L quản lý, sử dụng rừng Cước Eng, địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1971 để trồng lúa nương, khoai, sắn. Bố mẹ ông L là Hứa Văn C1 (Hứa Quang H2) và Lý Thị S là người khai hoang đầu tiên. Đến năm 1980 thì giao lại cho ông L sử dụng.

Năm 1995, ông Hứa Văn L trồng cây hồi bị người khác nhổ hiện nay chỉ còn sót lại 01 cây. Tháng 02 năm 2000, ông trồng 40 cây bạch đàn, đến năm 2010, thì khai thác khoảng 10 cây bạch đàn mang về làm hoành nhà. Trong số 22 cây bạch đàn có trên đất tranh chấp thì có một số trồng từ năm 2000, một số cây do mọc tái sinh từ gốc cây đã khai thác năm 2010. Năm 1999 và năm 2014 ông lại trồng dặm thêm một số cây hồi. Năm 2015, ông trồng cây sở, năm 2016, ông trồng cây trám. Khu đất gia đình ông quản lý, sử dụng đã có ranh giới rõ ràng với phần đất của người khác được phân định bằng bờ rào cây, đường hào.

Năm 1996, ông Hứa Văn L đi kê khai cấp sổ bìa xanh nhưng cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện C nói với ông là đất đang canh tác ổn định chưa cần kê khai. Do đó, khu đất do gia đình ông đang quản lý, sử dụng chưa được cấp sổ bìa xanh.

Đến tháng 10-2000, ông Hà Xuân T bảo với ông là khu đất do gia đình ông đang quản lý, sử dụng nằm trong diện tích đất đã được cấp Sổ xanh cho gia đình ông Hà Xuân T nên hai bên xảy ra tranh chấp. Phần đất tranh chấp ông Hứa Văn L chưa đi kê khai và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 30/10/2000, UBND xã B đã mời 02 gia đình lên hòa giải nhưng không thành (BL 04). Gia đình ông L vẫn sử dụng đất đến năm 2021 thì gia đình ông T lại tiếp tục tranh chấp. Ngày 10/12/2021, UBND xã B lại tiếp tục mời hai gia đình lên hòa giải nhưng không thành (BL 01, 08, 57).

Ông Hứa Văn L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết những nội dung sau (BL 274):

  1. Yêu cầu được quản lý, sử dụng đất tranh chấp có diện tích 7.517m², có ký hiệu đỉnh thửa ABCDEFGHKLMNOP được thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 22-2023 do Công ty Cổ phần T8 Lạng Sơn lập ngày 10/02/2023, thuộc một phần các thửa đất số 239, 240, 242, tờ bản đồ số 106, bản đồ đất Lâm nghiệp tỷ lệ 1: 10.000 xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, địa danh rừng C, thôn Bản Mới, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  2. Buộc gia đình ông Hứa Xuân T4 chấm dứt hành vi tranh chấp đối với diện tích đất tranh chấp.
  3. Yêu cầu được sở hữu 02 cây gỗ tạp đường kính 10cm, 05 cây bạch đường kính 20cm, 07 cây bạch đàn đường kính 21cm, 10 cây bạch đàn đường kính 06cm, 32 cây hồi đường kính 06cm, 09 cây hồi đường kính 09cm, 01 cây hồi đường kính 15cm, 30 cây hồi đường kính 03cm, 78 cây hồi đường kính 02cm, 42 cây trám đường kính 02cm đến 05cm, 28 cây sở đường kính 02cm.

Ngày 02/12/2023, ông Hứa Văn L có lời khai bổ sung đề nghị Tòa án (BL 459): Hủy một phần sổ xanh của gia đình các ông Hà Xuân T, Hà Văn P1, Hoàng Thị N.

Bị đơn ông Hà Xuân T trình bày:

Ông Hà Xuân T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do nguồn gốc đất tranh chấp là của ông nội ông là cụ Hà Khải T5 (đã chết) quản lý, sử dụng từ những năm 1930. Đến năm 1972, cụ Hà Khải T5 chết thì bố ông là ông Hà Văn H3 tiếp tục quản lý, sử dụng. Từ năm 1975 đến năm 1990, bố ông cho bố của ông Hứa Văn L là ông Hứa Quang H2 mượn đất canh tác, việc mượn đất không lập thành văn bản.

Từ năm 1985 do đất canh tác bạc màu nên gia đình ông L đã bỏ hoang và từ 1985 đến năm 1989, đất rừng của gia đình ông là nơi huấn luyện quân sự, sau khi bộ đội chuyển đi đất rừng của gia đình ông là đất đồi trọc.

Năm 1996, ông được Ủy ban nhân dân huyện C giao quyền quản lý rừng và đất trồng rừng (sổ xanh) theo Quyết định số 180/UB-QĐ ngày 20/6/1996. Sau đó, ông có tham gia trồng rừng (trồng cây hồi và cây bạch đàn) theo Dự án PAM 5322.

Đến năm 2000, ông Hứa Văn L đến tranh chấp khu đất rừng của gia đình ông. UBND xã B đã hòa giải ngày 30/10/2000 và UBND xã B đã xác định gia đình ông được quyền quản lý vì gia đình ông có bìa xanh. Từ đó, gia đình ông T đã khoanh nuôi, trồng rừng và trồng thêm một số cây. Cây bạch đàn, cây hồi ông không trực tiếp trồng mà do vợ ông là bà Vy Thị D1 và em trai ông là Hà Văn Q1 trồng; cây trám, cây sở, cây gỗ tạp là cây mọc tự nhiên. Gia đình ông L không chấp hành Biên bản ngày 30/10/2000 và nói sẽ làm đơn lên cấp trên nhưng không làm, sau đó năm 2021 ông L huy động con cái phát cây và đem một số cây vào trồng trong khu đất tranh chấp. Ông T có đơn gửi xã B, ngày 20/4/2021, UBND xã B đã tiến hành hòa giải hai gia đình, UBND xã xác định tạm giao cho gia đình ông T quản lý theo sổ bìa xanh nhưng gia đình ông T không đồng ý. Những người làm chứng cho gia đình ông T gồm có ông Hà Xuân Â, bà Lý Thị N2, ông Hà Xuân L5, bà Hoàng Thị D2, bà Hoàng Thị T6 là những người từng canh tác cho gia đình ông T trong khu đất tranh chấp, (BL 30, 94, 449).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn

gồm bà Mã Thị L1, chị Hứa Thị P2, anh Hứa Văn C, chị Hứa Thị V4 và chị Hứa Thị T3 đều đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu độc lập (BL 53-56, 194-196, 455, 460-462). Các chị Hứa Thị P2, Hứa Thị V4 và Hứa Thị T3 uỷ quyền cho ông Hứa Văn L tham gia tố tụng (BL 206).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn

gồm bà V1 (V) Thị Dung, anh Hà Phi V2, chị Hà Thị Phương V3, Hà Văn Q1 và chị Hoàng Thị M đều đồng ý với trình bày của bị đơn, không có yêu cầu độc lập và xin xét xử vắng mặt (BL 450-453). Chị Hà Thị Phương V3 đề nghị vắng mặt trong tất cả các ngày xét xử của Tòa án các cấp (BL 454)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Viết L4 trình bày:

Anh là con trai của bà Hứa Thị N1 và ông Trương Viết B (đều đã chết). Anh L4 khẳng định phần đất tranh chấp diện tích 49,8m² tại Thửa 242 trùng lấn với Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 52 mang tên mẹ anh bà Hứa Thị N1, gia đình anh chưa bao giờ quản lý, sử dụng phần diện tích đất tranh chấp này. Năm 1996, bà Hứa Thị N1 có cấp riêng Sổ xanh nhưng hiện nay anh tìm không thấy. Khoảng năm 1996, anh đi chăn trâu thấy gia đình ông Hứa Văn L canh tác, quản lý, sử dụng. Anh không thấy gia đình ông Hà Xuân T canh tác, quản lý, sử dụng bao giờ. Anh cũng không yêu cầu được quản lý, sử dụng phần diện tích đất trên. Anh Trương Văn L6 xin vắng mặt tại các phiên toà xét xử và không có yêu cầu độc lập (BL 259).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị N trình bày

(BL 266): Bà được biết đất đang tranh chấp giữa ông Hứa Văn L và ông Hà Xuân T có diện tích 2.948,9m² trùng lấn với lô số 334, diện tích 1,36 ha đã được Ủy ban nhân dân huyện C giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng tại Quyết định số 179/UB-QĐ ngày 20/6/1996 cho vợ chồng bà; chồng lấn diện tích 1.883,5m² với thửa đất số 240, diện tích 6.332m² do bà đứng tên. Tuy nhiên, bà Hoàng Thị N trình bày không biết thửa đất số 240 là thửa đất nào do bà không được đi kê khai, không được cấp giấy chứng nhận, không được thông báo về quyền quản lý, sử dụng đối với thửa đất này. Thực tế gia đình bà chưa bao giờ canh tác, quản lý, sử dụng đối với diện tích đất đang tranh chấp giữa ông Hứa Văn L và ông Hà Xuân T. Do đó, bà không yêu cầu được quản lý, sử dụng đối với diện tích đất trên. Nếu Toà án công nhận quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp cho ông Hứa Văn L hoặc ông Hà Xuân T thì bà đồng ý và không có thắc mắc, khiếu nại. Bà Hoàng Thị N không có yêu cầu độc lập và đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt bà cả ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn P1 trình bày:

Từ năm 1977 – 1978, ông thấy gia đình ông Hứa Văn L canh tác, quản lý, sử dụng, trồng lúa nương trên thửa đất tranh chấp giữa ông Hứa Văn L và ông Hà Xuân T. Hiện nay, trên đất tranh chấp có cây hồi, bạch đàn, sở, trám đen là của ông Líu T7 (BL189). Ông không thấy gia đình ông Hà Xuân T canh tác, quản lý, sử dụng bao giờ (BL243)

Ông Hà Văn P1 được biết đất tranh chấp giữa ông Hứa Văn L và ông Hà Xuân T có 511,2m² trùng lấn với Thửa 239 đứng tên trong sổ mục kê là ông Hà Văn P1. Ông và gia đình chưa bao giờ quản lý, sử dụng và không có yêu cầu được quản lý, sử dụng phần diện tích đất tranh này. Trường hợp Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho ông T hoặc ông L thì ông cũng đồng ý, không có thắc mắc, khiếu nại gì. Ông P1 không có yêu cầu độc lập và xin vắng mặt tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm (BL 243)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn trình bày (BL 281):

  1. Đối với nguồn gốc, quá trình quản lý các lô đất số 330, 333, 334, 335, 342, 343 Uỷ ban nhân dân xã không có bản đồ nên không có căn cứ đưa ra ý kiến.
  2. Nguồn gốc các thửa đất số 239, 240, 242 cụ thể như sau:

Thửa đất số 239, tờ bản đồ số 106 do ông Hoàng Văn P3, trú tại: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn quản lý và canh tác sử dụng ổn định cho đến nay, quy chủ là hộ ông Hà Văn P1 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thửa đất số 240, tờ bản đồ số 106 do bà Hoàng Thị N, trú tại: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn quản lý và canh tác sử dụng ổn định cho đến nay, quy chủ là hộ bà Hoàng Thị N chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thửa đất số 242, tờ bản đồ số 106 thể hiện trên sổ mục kê chủ sử dụng là UBND xã B quản lý, nguyên nhân do năm 2010 trong quá trình đo đạc bản đồ địa chính, lập sổ mục kê đất đai thửa đất trên đang có tranh chấp nên chưa quy chủ cho ai và đơn vị đo đạc ghi UBND xã B quản lý nhưng trên thực tế không phải do UBND xã quản lý.

  1. Thửa đất số 353, tờ bản đồ số 48 ghi đồng sử dụng do năm 2007 trong quá trình đo đạc thành lập bản đồ địa chính, lập sổ mục kê đất đai thửa đất đang có tranh chấp nên chưa quy chủ cho ai, đơn vị đo đạc ghi đồng sử dụng là chưa đúng thực tế.
  2. Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 52, là do bà Hứa Thị N1 (đã chết), trú tại: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn quản lý và canh tác sử dụng ổn định cho đến nay. Thể hiện trên sổ mục kê đất đai quy chủ UBND xã quản lý thể hiện trên bảng thống kê diện tích, loại đất chủ sử dụng theo hiện trạng đo đạc địa chính ghi Hứa Thị N1, hiện nay chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn, ông Hoàng Tiến D trình bày (BL 463, 303):

- Đối với nội dung ông Hứa Văn L yêu cầu buộc ông Hà Xuân T trả lại diện tích đất khoảng 7.517m², thuộc một phần các thửa đất số 239, 240, 242, tờ bản đồ đất Lâm nghiệp tỷ lệ 1: 10.000 xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, địa danh Rừng Cước Eng, thôn Bản Mới, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn cho gia đình ông quản lý, sử dụng. UBND huyện có ý kiến như sau: Qua thu thập hồ sơ địa chính, tài liệu liên quan từ Chi nhánh V5 đăng ký đất đai, UBND xã B là cơ quan có chức năng lưu trữ hồ sơ địa chính, hồ sơ biến động đất đai nhận thấy nguồn gốc đất tranh chấp như đại diện UBND xã B trình bày là phù hợp. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và các giấy tờ, tài liệu thu thập được để xem xét, giải quyết theo quy định.

- Đối với nội dung ông Hứa Văn L yêu cầu ông Hà Xuân T chấm dứt hành vi tranh chấp đối với diện tích đất trên và yêu cầu được quản lý, sử dụng khoảng 150 cây hồi đường kính khoảng 10cm đến 15cm và 40 cây bạch đàn đường kính khoảng 30cm đến 40cm: Đề nghị Tòa án xem xét nguồn gốc, quá trình tạo lập các tài sản trên đất và các giấy tờ, tài liệu thu thập được để xem xét, giải quyết theo quy định.

Hiện nay các chủ sử dụng đất đang xảy ra tranh đất đai, căn cứ khoản 3, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất cụ thể “3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật”. Do đó, sau khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án là căn cứ để UBND huyện C xem xét việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân.

Đối chiếu bản đồ Quy hoạch đã được UBND tỉnh L tại Quyết định số 468/QĐ-UBND ngày 23/3/2023 về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 thì phần đất tranh chấp quy hoạch là đất rừng sản xuất, không nằm trong ranh giới dự án nào. Nếu không có tranh chấp thì có thể được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người làm chứng ông Đinh Văn K trình bày:

Giữa ông và ông Hứa Văn L, ông Hà Xuân T không có mối quan hệ anh em, họ hàng, chỉ là người có đất làm vườn cạnh đất nhà ông L, còn đất ông T ở phía bên trên sườn đồi. Đất ông L hiện nay đang tranh chấp thì ông thấy bố của ông L là ông Hứa Quang H2 (tên gọi khác là Hứa Văn C1) trồng ngô, trồng sắn. Năm 1974-1975 ông H2 phát quang canh tác trồng lúa nương, đến năm 1979 do chiến tranh nên Bộ đội đào hào cắt ngang mảnh đất góc thì trồng ngô, góc thì trồng sắn những năm về đây ông L vẫn canh tác thường xuyên cho đến nay. Đến năm 2000 nhà ông T đề nghị Ủy ban nhân dân xã B xác minh thực tế để đề nghị khoanh đất thuộc quyền sở hữu của ông T, nhưng Uỷ ban nhân đã xã B lên làm việc đã không thành công, vì các hộ dân không đồng ý, sau đó các hộ vẫn canh tác bình thường và ông T không có ý kiến gì. Đến khoảng năm 2020 thì gia đình ông T và ông L lại xảy ra tranh chấp. Theo quan điểm cá nhân ông K thì tôi thấy ông T không đủ cơ sở để sử dụng chỗ đất hiện nay đang tranh chấp. Do bận công việc, ông K xin vắng mặt tại phiên toà.

Người làm chứng ông Đinh Văn D3 trình bày:

Ông D3 và ông Hứa Văn L, ông Hà Xuân T không có mối quan hệ anh em họ hàng, chỉ là người làm vườn sát đất ông Hứa Văn L. Ông D3 được biết việc tranh chấp đất đai giữa ông Hứa Văn L và ông Hà Xuân T, không rõ nguồn gốc đất là của ai. Nhưng khoảng năm 1971- 1972, bố đẻ ông L là ông Hứa Văn C1 (tên khác Hứa Quang H2) là người khai phá khu đất tranh chấp này (gọi là đồi C). Trên đất khi khai phá thì ông C1 trồng lúa nương và sắn. Sau đó bỏ một thời gian, ông Hứa Văn L lên trồng hồi, bạch đàn sát khu vườn nhà ông D3, cây bạch đàn hiện nay đã to. Từ trước đến giờ ông D3 chưa thấy ông Hà Xuân T lên quản lý khu đất tranh chấp này bao giờ nên ông D3 không biết ranh giới đất của ông Hà Xuân T đến đâu. Theo ý kiến ông D3 thì ông L đã trồng cây trên đất thì là đất của ông L, vì không thấy ông T canh tác trồng cây cối bao giờ.

Người làm chứng ông Hà Xuân  khai:

Ông Hà Xuân  là anh họ của ông Hà Xuân T cách nhau 04 đời, đối với ông L không có quan hệ anh, em họ hàng mà bố ông L trước đây cùng công tác với ông Â. Ông A không mâu thuẫn với hai bên. Nguồn gốc đất này từ đời cụ của ông Hà Xuân  là cụ Hà Chương S1 đã quản lý sử dụng, sau đó, ông S1 giao cho cụ Hà Khải T5 (là ông nội của ông Hà Xuân T quản lý, sử dụng), cụ Hà Khải T5 giao cho ông Hà Văn H3 là bố đẻ của ông T quản lý phần đất đồi Cước Eng này, khi giao thì chỉ giao bằng miệng không làm giấy tờ. Khu rừng có mộ cụ bà tổ tiên họ H4 bản Shắng. Quá trình quản lý, sử dụng ông T trồng cây hồi và quản lý các cây cối có sẵn trên đất. Cuối năm 1969, bố của ông L và mẹ của ông T đã có tranh chấp gửi đơn lên UBND xã, ông  là người trực tiếp giải quyết tranh chấp đất và bố của ông L xin làm thêm một vụ lúa nương thì sẽ trả lại đất vĩnh viễn. Sau đó bố của ông L tiếp tục cho gia đình lên trồng cây trên đất để lấn chiếm, không thực hiện đúng lời hứa. Khoảng năm 2000 bố ông T tiếp tục làm đơn lên UBND xã để hoà giải nhưng bố ông L tiếp tục canh tác trồng cây không chấp hành theo thoả thuận. Theo quan điểm của cá nhân ông  đề nghị Toà án giải quyết ông L phải trả toàn bộ khu đất cho nhà ông T quản lý, sử dụng.

Ngày 10/02/2023, Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (BL 165-174), kết quả như sau:

  1. Về đất:

Tổng diện tích đất tranh chấp là 7.517m² thuộc các thửa đất 239, 240,242, tờ bản đồ số 01 xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn;

  • - Giá đất tính theo giá nhà nước là 7.517m² x 7.000 đ/m² = 52.619.000 đồng;
  • - Giá đất tính theo giá thị trường là 7.517m² x 10.000 đ/m² = 75.517.000 đồng;
  1. Tài sản trên đất gồm:
  • - 02 cây gỗ tạp đường kính 10cm x 24.000 đồng/cây = 48.000 đồng;
  • - 05 cây bạch đàn đường kính 20cm x 66.000 đồng/cây = 330.000 đồng;
  • - 07 cây bạch đàn đường kính 21cm x 117.000 đồng/cây = 819.000 đồng;
  • - 10 cây bạch đàn đường kính 06cm x 24.000 đồng/cây = 240.000 đồng;
  • - 32 cây hồi đường kính 06cm x 500.000 đồng = 16.000.000 đồng;
  • - 09 cây hồi đường kính 09cm x 500.000 đồng = 4.500.000 đồng;
  • - 01 cây hồi đường kính 15cm x 850.000 đồng/cây = 850.000 đồng;
  • - 30 cây hồi đường kính 03cm x 250.000 đồng/cây = 7.500.000đồng;
  • - 78 cây hồi đường kính 02cm x 250.000 đồng/cây 19.500.000 đồng;
  • - 42 cây trám đường kính 02cm - 05cm x 130.000 đồng/cây = 5.460.000 đồng;
  • - 28 cây sở đường kính 02cm x 38.000 đồng/cây = 1.064.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 56.311.000 đồng.

* Tổng giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tính theo giá Nhà nước là 52.619.000 đồng + 56.311.000 đồng = 108.930.000 đồng (một trăm linh tám triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng).

* Tổng giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tính theo giá thị trường là 75.517.000 đồng + 56.311.000 đồng = 131.828.000 đồng (một trăm ba mươi mốt triệu tám trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Ngày 11/4/2023, Toà án đã ban hành Quyết định số 10/2023/QĐ-TCGÐ trưng cầu giám định tư pháp chồng ghép bản đồ đối với diện tích đất tranh chấp. Kết quả như sau (BL 226):

“Đất tranh chấp có diện tích 7.517m², có ký hiệu đỉnh thửa ABCDEFGHKLMNOPA được thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 22-2023 do Công ty Cổ phần T8 Lạng Sơn lập ngày 10/02/2023. Trong đó, có 1.883,5m² thuộc một phần thửa đất số 240; có 5.122m² thuộc một phần thửa đất số 242; có 511,5m² thuộc một phần thửa đất số 239 đều cùng tờ bản đồ đất Lâm nghiệp tỷ lệ 1/10.000 xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, địa danh rừng C, thôn Bản Mới, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Tại Mảnh trích đo địa chính thể hiện có trùng lấn với sơ đồ diện tích đất lâm nghiệp trong quyển Hồ sơ giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng (sổ xanh) được thể hiện tại Quyết định số 180/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn về quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng cho hộ ông Hà Văn T1 như sau (BL 228):

  • - Khu đất tranh chấp trùng lấn với lô số 330 (thuộc thửa 242) với diện tích khoảng 73,4m² theo vị trí đỉnh thửa (A2-A3-A4-A2) được giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng cho chủ hộ Hà Văn T1 (tại Quyết định số 180/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn);
  • - Khu đất tranh chấp trùng lấn với lô số 333 với diện tích khoảng 685,2m² theo vị trí đỉnh thửa (A-B-C-D-E-A1); Khu đất tranh chấp trùng lấn với lô số 334 với diện tích khoảng 2.948,9m² theo vị trí đỉnh thửa (A-A1-F-A2-A4-A7-A8-O-P) được giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng cho ông Hà Văn L7 (tại Quyết định số 179/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn); Khu đất tranh chấp trùng lấn với lô số 335 với diện tích khoảng 752,7m² theo vị trí đỉnh thửa (A8-A7-A6-M-N) được giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng cho ông Hà Văn P1 (tại Quyết định số 179/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn); Khu đất tranh chấp trùng lấn với lô số 342 với diện tích khoảng 19,3m² theo vị trí đỉnh thửa (A6-A5-M); Khu đất tranh chấp trùng lấn với lô số 343 với diện tích khoảng 3.037,5m² theo vị trí đỉnh thửa (A7-A4-A3-G-H-B1-K-B2-L-A5-A6). Các lô số 333, 334, 335, 342, 343 không có thông tin về chủ hộ quản lý. Sau khi có Kết luận giám định Toà án tiến hành thu thập thêm chứng cứ là sổ lâm bạ tại UBND xã B, huyện C xác định được như sau: Lô đất 333 và 342 thể hiện trong sổ lâm bạ chủ sử dụng là ông Hứa Văn L; lô 343 thể hiện trong sổ lâm bạ chủ sử dụng là bà Hứa Thị N1 (tuy nhiên, phần diện tích đất này gia đình bà Hứa Thị N1 không quản lý, sử dụng).
  • Tại Mảnh trích đo địa chính thể hiện có trùng lấn với bản đồ đất nông nghiệp tỷ lệ 1:10.000 xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn như sau (BL 229):
  • - Khu đất tranh chấp trùng lấn với thửa số 240 với diện tích 1883,5m² theo vị trí đỉnh thửa (PQRNA8OP), quy chủ sử dụng đất là Hoàng Thị N;
  • - Khu đất tranh chấp trùng lấn với thửa số 242 với diện tích 5122m² theo vị trí đỉnh thửa (ABCDEA1FA2A3GHB1KB2LRQPA), mang tên UBND xã B;
  • - Khu đất tranh chấp trùng lấn với thửa số 239 với diện tích 511,2m² theo vị trí đỉnh thửa (NRLA5M), quy chủ sử dụng đất là Hà Văn P1.
  • Tại Mảnh trích đo địa chính có trùng lấn với Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn như sau:
  • - Khu đất tranh chấp trùng lấn với thửa 353, Tờ bản đồ 48, với diện tích 7467m² theo vị trí đỉnh thửa (ABCDEA1FA2A3GHB1B2LA5MNA8OP), quy chủ sử dụng đất là Đ sử dụng;
  • - Khu đất tranh chấp trùng lấn với thửa số 10, Tờ bản đồ 52 với diện tích 49,8m² theo vị trí đỉnh thửa (B1KB2B1) quy chủ sử dụng đất là Hứa Thị N1.

Theo Mảnh trích đo địa chính số 22-2023 (BL 614) và Sơ đồ chồng ghép các loại bản đồ khu đất tranh chấp (BL 615) thì diện tích đất tranh chấp nằm tại các thửa là 239, 240 và 242. Trong đó, diện tích 73.4m² đất trùng lấn đứng tên ông Hà Xuân T tại lô 330 theo vị trí đỉnh thửa (A2-A3-A4-A2) và 49,8m² đứng tên bà Hứa Thị N1 theo vị trí đỉnh thửa (B1KB2B1) đều nằm trong tổng diện tích 5.122m² tại Thửa 242 chưa quy chủ cho ai do có tranh chấp và đơn vị đo đạc ghi UBND xã B quản lý nhưng trên thực tế không phải do UBND xã quản lý.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn

đã căn cứ vào Điều 26; khoản 1, 4 Điều 95; khoản 3 Điều 100; Điều 101; khoản 1, 2, 5 Điều 166; Điều 170; khoản 2 Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; khoản 1, 2, 6 Điều 11; khoản 2 Điều 164, 169, 175, 176, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 9 Điều 26; khoản 1, 3, 4 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 161; khoản 1 Điều 162; khoản 1 Điều 165; khoản 1, 2 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 266; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hứa Văn L, cụ thể:

  1. Về quyền sử dụng đất:
    1. Hộ gia đình ông Hứa Văn L được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp có diện tích S= 7.517m², có ký hiệu đỉnh thửa S=(ABCDEFGHKLMNOPA) được thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 22-2023 do Công ty Cổ phần T8 Lạng Sơn lập ngày 10/02/2023, thuộc một phần các thửa đất số 239, 240, 242, tờ bản đồ đất Lâm nghiệp số 01, tỷ lệ 1: 10.000; địa danh: Rừng C, thôn Bản Mới, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có các phía tiếp giáp như sau:
  • - Phía Bắc giáp thửa đất 242;
  • - Phía Đông giáp thửa đất số 242;
  • - Phía Nam giáp thửa đất 242 và 239 (bà Hứa Thị N1 đang sử dụng);
  • - Phía Tây giáp đất ông Hoàng Văn P3, bà Hoàng Thị N;

(trong đó có phần diện tích S1NOPQR = 1.883,5m² thuộc thửa đất số 240; S2ABCDEFGHKLRQP = 5.122,0m² thuộc thửa đất 242; S3LMNR = 511,5m² nằm trong thửa 239 đều thuộc tờ bản số 01 xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn).

(Cụ thể, chi tiết theo mảnh trích đo địa chính số 22-2023 do Công ty cổ phần T8 Lạng Sơn đo vẽ kèm theo Bản án).

  1. Hộ gia đình ông Hứa Văn L có quyền và nghĩa vụ kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
  1. Về tài sản trên đất:

Hộ ông Hứa Văn L được quyền sở hữu các tài sản trên đất gồm:

  • - 02 (hai) cây gỗ tạp đường kính 10cm;
  • - 05 (năm) cây bạch đường kính 20cm;
  • - 07 (bẩy) cây bạch đàn đường kính 21cm;
  • - 10 (mười) cây bạch đàn đường kính 06cm;
  • - 32 (ba mươi hai) cây hồi đường kính 06cm;
  • - 09 (chín) cây hồi đường kính 09cm;
  • - 01 (một) cây hồi đường kính 15cm;
  • - 30 (ba mươi) cây hồi đường kính 03cm;
  • - 78 (bẩy mươi tám) cây hồi đường kính 02cm;
  • - 42 (bốn mươi hai) cây trám đường kính 02cm đến 05cm;
  • - 28 (hai mươi tám) cây sở đường kính 02cm.
  1. Buộc ông Hà Xuân T, bà V1 (V) Thị Dung, anh Hà Phi V2, chị Hà Thị Phương V3, chị Hoàng Thị M chấm dứt hành vi tranh chấp đối với diện tích đất tranh chấp và tài sản trên đất nêu tại mục 1.1 và mục 2 phần Quyết định.
  2. Hủy một phần Quyết định số 180/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn giao cho ông Hà Văn T1 lô đất số 330, mảnh số 2; địa danh Cước Eng, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đối với diện tích 73,4m² theo vị trí đỉnh thửa (A2-A3-A4);
  3. Hủy một phần Quyết định Quyết định số 179/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn giao đất cho ông Hà Văn P1 đối với lô số 335 bị trùng lấn với diện tích đất tranh chấp khoảng 752,7m² theo vị trí đỉnh thửa (A8-A7-A6-M-N);
  4. Hủy một phần Quyết định số 179/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn giao đất cho ông Hà Văn L7 và bà Hoàng Thị N đối với lô số 334 bị trùng lấn với diện tích đất tranh chấp khoảng 2.948,9m² theo vị trí đỉnh thửa (A-A1-F-A2-A4-A7-A8-O-P);

(Các vị trí chồng lấn tại mục 4, 5, 6 phần Quyết định theo Sơ đồ chồng ghép các loại bản đồ khu đất tranh chấp kèm theo kết luận Giám định tư pháp ngày 04/5/2023 được kèm theo Bản án).

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/4/2024, ông Hà Xuân T kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm: bị đơn ông Hà Xuân T giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Xuân T, giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Ngày 10/4/2024, bị đơn ông Hà Xuân T kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 là trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí và án phí vì là người dân tộc thiểu số, nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Diện tích đất tranh chấp giữa ông Hứa Văn L và ông Hà Xuân T là 7.517m² thuộc các thửa đất 239, 240, 242, tờ bản đồ số 01, địa danh: Cước Eng, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Trong đó, trùng lấn với thửa số 239 với diện tích 511,5m² theo vị trí đỉnh thửa (N-R-L-A5-M), quy chủ sử dụng đất H (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); trùng lấn với thửa số 240 với diện tích 1.883,5m² theo vị trí đỉnh thửa (P-Q-R-N-A8-O), quy chủ sử dụng đất Hoàng Thị N (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); trùng lấn với thửa số 242 theo vị trí đỉnh thửa (A-B-C-D-E-A1-F-A2-A4-A3-G-H-B1-K-B2-L-R-Q-P-A), ghi tên chủ sử dụng đất Ủy ban nhân dân xã B (nhưng thực tế đất chưa quy chủ cho ai do đang có tranh chấp nên mới ghi là UBND xã B quản lý, chứ thực tế không phải do UBND xã quản lý).

[3] Theo Mảnh trích đo địa chính số 22-2023, Quyết định số 10/2023/QĐ-TCGĐ trưng cầu giám định tư pháp chồng ghép bản đồ đối với diện tích đất tranh chấp, Sơ đồ chồng ghép các loại bản đồ khu đất tranh chấp, thì trong diện tích 5122m² tại Thửa đất 242 ghi tên chủ sử dụng đất UBND xã B mà ông L và ông T đang tranh chấp thì cũng bị trùng một phần đất mang tên bà Hứa Thị N1 (49,8m²) quản lý, sử dụng; một phần trùng với diện tích do gia đình ông Hứa Văn L quản lý, sử dụng (685,2m² lô 333 và 19,3m² lô 242); và chỉ có 73,4m² là trùng với đất của ông Hà Xuân T (Hà Văn T1) được giao tại khoảnh 330, lô số 2 theo Quyết định số 180/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn, tức là có 73,4m² mà gia đình ông L đang sử dụng có tranh chấp với ông T1 vừa được cấp giấy cho ông T1 theo Quyết định số 180/UB-QĐ vừa nằm trong tổng diện tích đất 5122m² tại Thửa đất 242 đang tạm thời ghi tên UBND xã B quản lý tại bản đồ địa chính và sổ mục kê đất đai.

[4] Phần đất tranh chấp còn lại không nằm trong diện tích đất mà ông Hà Xuân T (Hà Văn T1) được giao tại khoảnh 330, lô số 2 theo Quyết định số 180/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, mà nằm trong diện tích đất tại thửa 239 quy chủ sử dụng đất là ông Hà Văn P1, thửa 240 quy chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị N và phần đất còn lại của thửa 242 chưa quy chủ cho ai và hiện đang tạm thời do UBND xã B đứng tên.

[5] Về cây trồng trên đất: Hồ sơ dự án PAM 5322 do Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh L cung cấp thể hiện: Có hồ sơ hộ gia đình ông Hà Văn T1 địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C thực hiện dự án PAM 5322 nhưng không thể hiện số thửa đất trồng cây mà chỉ thể hiện số lượng cây, loài cây trồng, diện tích, tỷ lệ sống... Mặt khác, tại Quyết định số 180/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C thể hiện rừng hồi gia đình ông T1 trồng là 0,6ha tại P, còn 3,36ha tại C chỉ là đất trống, trên đất có sim, mua, nên không có căn cứ xác định việc hộ ông Hà Xuân T trồng cây trên diện tích đất tranh chấp. Ông Hà Xuân T cũng thừa nhận không trực tiếp trồng cây trên đất tranh chấp mà do vợ và em trai ông T trồng, cụ thể trồng vị trí nào ông T không nắm được. Tại cấp sơ thẩm, khi Toà án yêu cầu giám định tuổi cây nhưng gia đình ông Hà Xuân T không yêu cầu giám định do không xác định được chính xác năm trồng cây và cây do gia đình mình trồng. Do đó, việc ông Hà Xuân T tại phiên tòa phúc thẩm lại đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm trưng cầu giám định tuổi cây là không được chấp nhận.

[6] Trong khi đó, ông Hứa Văn L đã quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1971, sử dụng trồng lúa nương, khoai, sắn và nắm rõ, trình bày rành mạch số lượng, các loại cây trồng trên đất, vị trí, ranh giới, đặc điểm thửa đất. Ông L khai năm 1995, ông L trồng cây hồi nhưng bị người khác nhổ đi hiện nay còn sót lại 01 cây. Tháng 02/2000, ông L trồng 40 cây bạch đàn. Năm 2010, ông L khai thác khoảng 10 cây bạch đàn mang về làm hoành nhà. Trong số 22 cây bạch đàn có trên đất tranh chấp thì có một số cây do trồng từ năm 2000, một số cây mọc tái sinh từ gốc cây đã khai thác năm 2010. Năm 1999, ông L trồng cây hồi và năm 2014 lại trồng thêm một số cây hồi. Năm 2015, ông L trồng cây sở. Năm 2016, ông L trồng cây trám. Khu đất gia đình ông L quản lý, sử dụng đã có ranh giới rõ ràng với phần đất của người khác được phân định bằng bờ rào cây, đường hào. Những người liên quan là hộ gia đình ông Hà Văn P1, bà Hoàng Thị N3, ông Trương Viết L4 (con của ông Hà Văn L7 và bà Hoàng Thị N) và những người làm chứng ông Đinh Văn K và ông Đinh Văn D3 là người có đất sát với đất tranh chấp cũng khai thấy gia đình ông Hứa Văn L canh tác, quản lý, sử dụng, chưa bao giờ thấy gia đình ông Hà Xuân T canh tác, sử dụng phần đất tranh chấp. Ông Hà Văn P1 còn xác định các cây trồng trên đất là hồi, bạch đàn, sở, trám đen là của ông L.

[7] Ông Hà Xuân T thừa nhận gia đình ông đã không sử dụng đất từ năm 1975 đến khi có tranh chấp năm 2000 là 25 năm. Theo quy định tại Điều 26 Luật đất đai 1993, Điều 38 Luật đất đai 2003, Điều 64 Luật đất đai 2013, thì trường hợp đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục thì sẽ bị thu hồi. Ông T khai năm 1975-1990 gia đình ông T cho ông Hứa Quang H2 (bố đẻ của ông L) mượn đất canh tác nhưng không có căn cứ chứng minh. Những người làm chứng cho ông T là bà Lý Thị N2, ông Hà Xuân L5, bà Hoàng Thị D2, bà Hoàng Thị T6 đều là những người từng canh tác cho gia đình ông T, còn ông Hà Xuân  có mối quan hệ họ hàng với ông T, nên lời khai của những người này không đảm bảo tính khách quan.

[8] Từ những căn cứ trên cho thấy: diện tích 73,4m² đất tranh chấp mà gia đình ông L sử dụng từ năm 1971 trùng vào Thửa 330 cấp cho gia đình ông T năm 1996 không thuộc quyền sử dụng của gia đình ông T, mà phải xác định gia đình ông T đã được cấp đất lấn vào đất của gia đình ông L đang sử dụng.

[9] Đối với diện tích đất trùng lấn với các hộ gia đình ông Hà Văn P1, bà Hoàng Thị N3, ông Trương Viết L4 (con của ông Hà Văn L7 và bà Hoàng Thị N): các hộ này đều khai rằng thực tế họ không quản lý và sử dụng diện tích đất tranh chấp trùng lấn với đất gia đình của họ vì phần đất của các hộ gia đình trên đều đã có ranh giới rõ ràng. Các hộ gia đình ông Hà Văn P1, bà Hoàng Thị N, ông Trương Viết L4 xác định không yêu cầu được quản lý, sử dụng phần diện tích đất tranh chấp trên.

[10] Như vậy, mặc dù gia đình ông L chưa được cấp giấy đối với diện tích đất tranh chấp, nhưng thực tế gia đình ông L đã sử dụng đất từ năm 1971 và đã trồng cây trên đất và UBND huyện C xác định diện tích đất tranh chấp quy hoạch là đất rừng sản xuất, không nằm trong ranh giới dự án nào, nếu không có tranh chấp thì có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hứa Văn L, xác định hộ gia đình ông Hứa Văn L có quyền được quản lý, sử dụng phần diện tích đất tranh chấp và tài sản gắn liền với đất theo biên bản xem xét thẩm định và mảnh trích đo địa chính của Công ty Cổ phần T8 Lạng Sơn đo vẽ là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[11] Do diện tích đất tranh chấp được công nhận quyền sử dụng cho ông Hứa Văn L, nhưng lại có một phần đất được cấp trùng vào đất nhà ông Hà Xuân T, Hà Văn P1, Hoàng Thị N, trên cơ sở yêu cầu của ông L và căn cứ quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm quyết định huỷ một phần các Quyết định số 180/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn giao cho ông Hà Văn T1 đối với khoảnh 330, mảnh số 2; địa danh Cước Eng, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về diện tích trùng lấn 73,4m²; Quyết định số 179/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn giao đất cho ông Hà Văn P1 lô số 335 bị trùng lấn với diện tích đất tranh chấp khoảng 752,7m² theo vị trí đỉnh thửa (A8-A7-A6-M-N) mà ông Hà Văn P1 không thực tế quản lý sử dụng; Quyết định số 179/UB-QĐ ngày 20/6/1996 của UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn giao đất cho ông Hà Văn L7 và bà Hoàng Thị N đối với lô số 334 bị trùng lấn với diện tích đất tranh chấp khoảng 2.948,9m² theo vị trí đỉnh thửa (A-A1-F-A2-A4-A7-A8-O-P) mà gia đình ông Hà Văn L7 và bà Hoàng Thị N không thực tế quản lý, sử dụng, là đúng quy định pháp luật.

[12] Vì yêu cầu khởi kiện của ông Hứa Văn L được chấp nhận, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm buộc bị đơn ông Hà Xuân T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 21.517.000 đồng (hai mươi mốt triệu năm trăm mười bẩy nghìn đồng) là đúng quy định.

[13] Từ các căn cứ trên, thấy rằng không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Hà Xuân T; chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên toà phúc thẩm, bác kháng cáo của ông T và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[14] Về án phí: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn là người dân tộc thiểu số sinh sống ở cùng đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Hà Xuân T (tên gọi khác Hà Văn T1). Giữ nguyên Quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
  2. Về án phí phúc thẩm: Ông Hà Xuân T được miễn án phí phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nam Thành Nguyễn Phương Hạnh
Trần Thị Quỳnh

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Cục THADS tỉnh Lạng Sơn;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HCTP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 470/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 470/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hứa Văn L và Hà Xuân T tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger