Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/DS-ST

Ngày 31-7-2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAΙ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Hoàng Thanh Tâm
  • Ông Nguyễn Thế Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2024/QĐST - DS ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam. Địa chỉ: 194 Trần Quang Khải, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức Tú, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức Toàn, chức vụ: Giám Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Nai.

Người được ủy quyền lại: Ông Lê Hoài Nam, chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Long Khánh. Địa chỉ: Đường Nguyễn Trãi, phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1979. HKTT: ấp Bàu Trâm, xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Chổ ở hiện nay: Nguyễn Hữu Cảnh, khu phố 2, phường Xuân Trung, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1978. HKTT: ấp Bàu Trâm, xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Chổ ở hiện nay: Nguyễn Hữu Cảnh, khu phố 2, phường Xuân Trung, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2023, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (do ông Lê Hoài Nam đại diện) trình bày:

Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng số 049/2022/14332004 ngày 01 tháng 3 năm 2022 và các hợp đồng tín dụng cụ thể 049.4/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022, Hợp đồng tín dụng số cụ thể số 049.5/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022 và Hợp đồng tín dụng số cụ thể số 049.6/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022, thỏa thuận cho ông Lê Văn N vay tổng số tiền 4.900.000.000đ (Bốn tỷ chín trăm triệu đồng), mục đích sử dụng vay thanh toán tiền mua hàng, tùy vào các hợp đồng cụ thể thời hạn vay đến các ngày 07/3/2023, ngày 09/3/2023 và ngày 21/3/2023, lãi suất 9.8%/ năm, cố định trong thời gian vay vốn. Lãi suất được trả vào ngày 25 hàng tháng. Để đảm bảo cho khoản vay ông Nam thế chấp cho ngân hàng: Thửa số 537, tờ bản đồ số 24, diện tích 60 m² tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY565595 do Sở tài nguyên và môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 02/02/2016 cùng tài sản trên đất. Thửa số 525, tờ bản đồ số 24, diện tích 60 m² tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 239107 do Sở tài nguyên và môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/01/2007 cùng tài sản trên đất. Theo hợp đồng thế chấp số 029/2021/14332004/HĐBĐ ngày 24/02/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam với ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi là 184.499.726 đồng, chưa thanh toán nợ gốc, sau đó liên tục vi phạm thời hạn thanh toán gốc và lãi theo thỏa thuận.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông N thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam số tiền nợ gốc và tiền lãi với lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 049/2022/14332004 ngày 01 tháng 3 năm 2022 và các hợp đồng tín dụng cụ thể 049.4/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022, Hợp đồng tín dụng cụ thể số 049.5/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022, Hợp đồng tín dụng cụ thể số 049.6/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và ông Lê Văn Nam cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Theo Ngân hàng, tính đến ngày 31/7/2024 (ngày mở phiên tòa) thì tổng cộng ông Nam còn nợ Ngân hàng số tiền 5.962.963.604đ (năm tỷ chín trăm sáu mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, sáu trăm lẻ bốn đồng). Trong đó: tiền gốc 4.900.000.000 đồng, tiền lãi 726.716.164 đồng; lãi phạt chậm trả 336.247.440 đồng.

Trường hợp ông N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên, Ngân hàng yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp là các thửa đất số 537, tờ bản đồ số 24, diện tích 60 m² tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY565595 do Sở tài nguyên và môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 02/02/2016 cùng tài sản trên đấ, thửa số 525, tờ bản đồ số 24, diện tích 60 m² tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 239107 do Sở tài nguyên và môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/01/2007 cùng tài sản trên đất theo hợp đồng thế chấp số 029/2021/14332004/HĐBĐ ngày 24/02/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam với ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H để thu hồi khoản nợ vay.

Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng thì ông Lê Văn N phải tiếp tục thanh toán cho đến khi xong khoản nợ.

Ông Nam còn phải thanh toán toàn bộ chi phí tống tụng xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tại thị xã La Gi mà phía ngân hàng đã nộp là 5.000.000đ (năm triệu đồng).

Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị đơn ông Lê Văn N, và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nam thanh toán nợ cho ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn N phải trả số tiền nợ gốc và tiền lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 và khoản 14 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn có nơi cư trú tại: Nguyễn Hữu Cảnh, phường Xuân Trung, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về thời hiệu khởi kiện:

Hợp đồng tín dụng ngày 01/3/2022 và các hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 07/9/2022, 09/9/2022 và 21/9/2022 ngày được ký kết giữa ông N và Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam do ông N vi phạm thời hạn thanh toán nên đến ngày 06/11/2023, Ngân hàng khởi kiện là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 151 Bộ luật dân sự.

[4] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệp tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[5] Xét yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng:

[5.1] Các tình tiết nguyên đơn đưa ra như ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng tín dụng về số tiền vay, thời hạn vay cũng như quá trình thanh toán và số tiền còn nợ, ngày phát sinh lãi suất nợ quá hạn do chậm trả. Căn cứ khoản 1, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sư, Hội đồng xét xử xác nhận các tình tiết này là sự thật.

Xét yêu cầu buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền vay và lãi nợ quá hạn do chậm thanh toán thấy rằng: Nghĩa vụ của bị đơn là người vay phải thanh toán nợ gốc và lãi suất với người cho vay khi đến hạn. Bị đơn đã nhận 4.900.000.000đ tiền vay của nguyên đơn thông qua các hợp đồng tín dụng, khi đến hạn không thanh toán nợ gốc, lãi phát sinh tính từ ngày 18/10/2023 đến nay chưa thanh toán. Do đó, yêu cầu buộc nguyên đơn thanh toán số nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn là có căn cứ chấp nhận.

Về lãi suất: Đối với khoản tiền lãi mà Ngân hàng tạm tính đến ngày 31/7/2024 tiền lãi 726.716.164 đồng; lãi phạt chậm trả 336.247.440 đồng. Do ông Lê Văn Nam đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành khoản nợ quá hạn từ ngày 05/10/2023 và buộc ông N phải trả lãi theo các Hợp đồng tín dụng cụ thể với mức lãi suất là 9,8% và 10,2%/năm/trên số tiền nợ gốc là 4.900.000.000đ đồng; nợ lãi phạt gốc quá hạn là 150%/năm của lãi suất quá hạn. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và đề nghị ông N phải trả là phù hợp với quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn của hợp đồng tín dụng, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên HĐXX chấp nhận.

Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 01/8/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 049/2022/14332004 ngày 01 tháng 3 năm 2022 và các hợp đồng tín dụng cụ thể 049.4/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022, Hợp đồng tín dụng số cụ thể số 049.5/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022 và Hợp đồng tín dụng số cụ thể số 049.6/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022 cho đến khi ông Lê Văn N thanh toán xong khoản nợ.

Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 5.962.963.604đ (năm tỷ chín trăm sáu mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, sáu trăm lẻ bốn đồng). Trong đó: Tiền gốc 4.900.000.000 đồng, tiền lãi 726.716.164 đồng; lãi phạt chậm trả 336.247.440 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[5.2] Để đảm bảo cho khoản vay ông N thế chấp cho ngân hàng thửa số 537, tờ bản đồ số 24, diện tích 60 m² tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY565595 do Sở tài nguyên và môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 02/02/2016 cùng tài sản trên đất. Thửa số 525, tờ bản đồ số 24, diện tích 60 m² tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 239107 do Sở tài nguyên và môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/01/2007 cùng tài sản trên đất. Theo hợp đồng thế chấp số 029/2021/14332004/HĐBĐ ngày 24/02/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam với ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H. Tòa án thành phố Long Khánh đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất thế chấp, tài sản không thay đổi hiện trạng hoặc phát sinh bên thứ ba. Xét việc thế chấp tài sản được các bên ký kết đúng theo quy định của pháp luật, được Văn phòng đăng ký đất đai Lagi xác nhận nên có giá trị thực hiện.

[6] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tạm ứng chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất tại thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận số tiền 5.000.000đ; yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải hoàn lại toàn bộ chi phi tố tụng cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam.

[8] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên đây của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3, 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 184; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 235; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 156; Điều 357; Điều 429 và điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15; khoản 3 Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Buộc ông Lê Văn N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam số tiền nợ tổng cộng là: 5.962.963.604đ (năm tỷ chín trăm sáu mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, sáu trăm lẻ bốn đồng). Trong đó: Tiền gốc 4.900.000.000 đồng, tiền lãi 726.716.164 đồng; lãi phạt chậm trả 336.247.440 đồng.

Kể từ ngày 01/8/2024, người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền nêu trên còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 049/2022/14332004 ngày 01 tháng 3 năm 2022 và các hợp đồng tín dụng cụ thể 049.4/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022, Hợp đồng tín dụng số cụ thể số 049.5/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022 và Hợp đồng tín dụng số cụ thể số 049.6/2022/14332004/HĐTD ngày 07/9/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam và ông Lê Văn N cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là thửa số 537, tờ bản đồ số 24, diện tích 60 m² tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY565595 do Sở tài nguyên và môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 02/02/2016 cùng tài sản trên đất. Thửa số 525, tờ bản đồ số 24, diện tích 60 m² tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 239107 do Sở tài nguyên và môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/01/2007 cùng tài sản trên đất. Theo hợp đồng thế chấp số 029/2021/14332004/HĐBĐ ngày 24/02/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam với ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H để thu hồi khoản nợ vay.

Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng thì ông Lê Văn N phải tiếp tục thanh toán cho đến khi xong khoản nợ.

2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn N, bà ........trả lại cho số tiền Ngân hành TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam số tiền 5.000.000 đồng chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ.

3. Về án phí: Ông Lê Văn N phải nộp 113.962.964 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hành TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam số tiền 56.697.588 đồng, theo biên lai thu tiền số 0004931 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nam, bà Hương có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Long Khánh;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TPLK;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Vân Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 47/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger