Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi, ông Đỗ Văn Kha.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1985; Địa chỉ nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).

Bị đơn: Ông Trần Ngọc T1, sinh năm: 1974; Địa chỉ nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 5 năm 2024 và các bản lời khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:

T và ông Trần Ngọc T1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được mọi việc trong gia đình, vợ chồng hay cãi nhau trong cách nuôi dạy con cái và kinh tế. Bà T và ông T1 đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không được. Vào năm 2021 bà T đã làm đơn ly hôn gửi Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước yêu cầu giải quyết việc ly hôn giữa bà T với ông T1, tuy nhiên ông T1 năn nỉ và hứa sửa đổi nên bà T đã rút đơn về. Trong thời gian rút đơn về thì bà T cảm thấy cuộc sống chung giữa bà T và ông T1 vẫn tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn mà không thể hàn gắn.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà T yêu cầu được ly hôn với ông Trần Ngọc T1.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Trần Ngọc Lan H, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010 và Trần Ngọc Lan T2, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2012. Vợ chồng ly hôn bà T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu H, cháu T2. Bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản lời khai ngày 14 tháng 6 năm 2024 và ngày 22 tháng 7 năm 2024, bị đơn ông Trần Ngọc T1 trình bày:

Ông T1 và bà Nguyễn Thị Thu T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau không ai ép buộc, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, lý do mâu thuẫn là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được mọi việc trong gia đình, vợ chồng hay cải nhau trong cách nuôi dạy con cái và kinh tế. Vào năm 2021 bà T đã làm đơn ly hôn gửi Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước yêu cầu giải quyết việc ly hôn giữa ông T1 với bà T, tuy nhiên bà T đã rút đơn về. Trong thời gian rút đơn về vợ chồng ông T1 tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn.

Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1 thì ông T1 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống ông T1 và bà T có 02 người con chung là cháu Trần Ngọc L H, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010 và Trần Ngọc Lan T2, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2012. Ý kiến của ông T1 là nếu các con chung có nguyện vọng ở với ai thì giao cho người đó nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông T1 và bà T có một số tài sản chung là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại phường T, T và T thuộc thành phố Đ do bà T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T1 và bà T tự thỏa thuận giải quyết sau hôn nhân. Nếu không thỏa thuận được thì ông T1 khởi kiện trong vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Ngọc T1. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông T1 có nơi cư trú tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài thụ lý, giải quyết là có căn cứ và đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bà T, ông T1. Do bà T, ông T1 đã có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[3] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông T1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2006, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 100/2006, quyển số: 01, ngày 28 tháng 11 năm 2006. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà T và ông T1 là hợp pháp. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ.

Xét tình trạng hôn nhân của bà T, ông T1: Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà T đều yêu cầu được ly hôn với ông T1 vì mâu thuẫn rất trầm trọng, vợ chồng đã ly thân, không còn chung sống với nhau. Xét thấy, hôn nhân được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau nhưng bà T, ông T1 đã ly thân từ đầu năm 2024. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai người có cơ hội quay lại đoàn tụ với nhau nhưng không thành. Từ những căn cứ trên có thể khẳng định tình trạng hôn nhân của bà T và ông T1 là rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

- Về con chung: Bà T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu H, cháu T2.

Xét điều kiện nuôi con của bà T: Bà T là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H, cháu T2. Bà T có nhà và đang làm Ngân hàng, thu nhập ổn định hàng tháng của bà là 21.600.000 đồng. Như vậy, về điều kiện nuôi con thì bà T có đủ khả năng để nuôi dưỡng cháu H, cháu T2, đảm bảo cho con có cuộc sống tốt nhất về mọi mặt.

Xét nguyện vọng của cháu H, cháu T2: Cháu H, cháu T2 còn nhỏ, độ tuổi cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp của bố, mẹ. Tại bản lời khai ngày 01 tháng 7 năm 2024, cháu H, cháu T2 có nguyện vọng được ở với mẹ là bà T. Xét nguyện vọng của cháu H, cháu T2 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”. Vì vậy, yêu cầu nuôi con của bà T được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là: 300.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 48, 227, 228, 147, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T về việc “Ly hôn”. Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Trần Ngọc T1 (Đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 100/2006, quyển số: 01, do Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước cấp ngày 28 tháng 11 năm 2006).

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T về việc nuôi con. Giao cháu Trần Ngọc Lan H, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010 và Trần Ngọc Lan T2, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2012 cho bà Nguyễn Thị Thu T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Trần Ngọc T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu là: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0001301 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài. Bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T, ông Trần Ngọc T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND TP Đồng Xoài;
  • - CCTHADS TP Đồng Xoài;
  • - UBND xã Tiến Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Ngọc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger