|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/DSST Ngày: 31/5/2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trang Thị Cẩm Nhuần.
- Bà Lê Thị Cúc Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Quyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần tham gia phiên toà: ông Sơn
Nhựt Nhân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2023/TLST- DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-DS ngày 22/4/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2024/QĐST-DS ngày 15/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N4
Địa chỉ: số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội
- Do anh Nguyễn Thành N - Chức vụ: Trưởng phòng khách hàng Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Trà Vinh làm đại diện (theo quyết định ủy quyền số101/QĐ-NHNO.TCa-KH ngày 29/5/2024) (có mặt)
- Bị đơn:
- Ông Trần Ngọc S, sinh năm 1985 (Có mặt)
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1962 (Vắng mặt không có lý do)
- Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1961 (Vắng mặt không có lý do)
- Bà Từ Thị Ngọc T1, sinh năm 1990 (Vắng mặt không có lý do)
Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Hồng N2 (Trần Thị Hoàng N3), sinh năm 1988 (Vắng mặt không có lý do)
- Anh Trần Văn Â, sinh năm 1982 (Vắng mặt không có lý do)
Tất cả cùng địa chỉ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Ngân hàng N4 chi nhánh H, quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh Nguyễn Thành N đại diện Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Trà Vinh trình bày:
Ngày 17/3/2022 ông Trần Ngọc S là người đại diện cho gia đình và Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T (sau đây viết tắt là Ngân hàng) có ký kết hợp đồng tín dụng số 7404LAV202200891 với nội dung:
- Số tiền vay 410.000.000 đồng
- Mục đích vay: sửa nhà ở
- Lãi suất vay: 10,5%/năm (tại thời điểm nhận nợ); lãi suất quá hạn là 15,75%
- Hạn trả gốc cụ thể như sau:
- Ngày 10/3/2023: 82.000.000 đồng
- Ngày 10/3/2024; 82.000.000 đồng
- Ngày 10/3/2025: 82.000.000 đồng
- Ngày 10/3/2026; 82.000.000 đồng
- Ngày 10/3/2027; 82.000.000 đồng
- Lãi phải trả đến ngày 14/6/2023 là 55.727.950 đồng (Trong đó lãi trong hạn là 53.490.000 đồng, lãi quá hạn là 1.114.863 đồng; lãi chậm trả là 1.122.127 đồng
Để đảm bảo khoản vay ông Trần Ngọc S có thê chấp cho Ngân hàng 03 quyền sử dụng đất gồm: Diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 loại đất trồng lúa; Diện tích đất 1.540 m² thuộc thửa số 1086 loại đất ở - cây ăn quả; Diện tích đất 3.920 m² thuộc thửa số 1088 loại đất trồng lúa cùng tờ bản đồ số 02 cùng tọa lạc tại ấp N, xã T, huyện T tỉnh Trà Vinh cùng do hộ ông Trần Văn T đứng tên quyền sử dụng đất. Quá trình vay phía ông T, anh S, bà N1 và chị T1 đã vi phạm hợp đồng tín dụng. Nay ngân hàng N4 – chi nhánh huyện T khởi kiện yêu cầu ông Trần Ngọc S, ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1 và bà Từ Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 410.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày 31/5/2024 là 106.837.383 đồng và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng cho đến khi tất toán xong.
Trường hợp không thanh toán được nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp là 03 quyền sử dụng đất gồm: Diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 loại đất trồng lúa; Diện tích đất 1.540 m² thuộc thửa số 1086 loại đất ở - cây ăn quả; Diện tích đất 3.920 m² thuộc thửa số 1088 loại đất trồng lúa cùng tờ bản đồ số 02 cùng tọa lạc tại ấp N, xã T, huyện T tỉnh Trà Vinh cùng do hộ ông Trần Văn T đứng tên quyền sử dụng đất để thu hồi nợ.
2
Tại bản tự khai ngày 27/10/2024 quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Trần Ngọc S: Anh thừa nhận anh có ký hợp đồng vay vốn của Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Trà Vinh số tiền bằng 410.000.000 đồng để cho người anh tên là Trần Ngọc A1 làm ăn và sửa nhà, do làm ăn thua lỗ nên đã vi phạm hợp đồng với Ngân hàng, quá trình Tòa án giải quyết anh yêu cầu ngân hàng G thêm để tạo điều kiện cho gia đình kiếm đủ tiền để trả vốn và lãi cho Ngân hàng và tại phiên hòa giải ngày 19/3/2024 anh có cam kết với Ngân hàng đến ngày 20/4/2024 anh sẽ trả toàn bộ tiền vốn, tiền lãi cho Ngân hàng và chịu toàn bộ chi phí tố tụng, tuy nhiên do anh không thực hiện lời hứa được. Nay anh đồng ý hoàn trả cho Ngân hàng số vốn gốc bằng 410.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Đối với phần tài sản bảo đảm anh đồng ý cho xử lý tài sản bảo đảm đối với thửa đất số 1088 và 1072 để thu hồi nợ, còn đối với thửa đất 1086 anh xin Hội đồng xét xử không xử lý vì nếu xử lý thửa đất số 1086 thì gia đình anh không còn chổ ở và đất canh tác.
Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị O yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 loại đất trồng lúa. Anh thừa nhận năm 2021 anh với cha anh là ông Trần Văn T có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 1072 cho bà Nguyễn Thị O, nhưng do thời điểm chuyển nhượng giấy đỏ còn thế chấp ngân hàng nên không biết diện tích cụ thể là bao nhiêu lúc này có nói diện tích theo bằng khoáng là 1.800 m², sau khi ký hợp đồng bà O đã đưa tiền đầy đủ cho anh và ông T bà O cũng đã nhận đất canh tác lên liếp trồng dừa (mục đích chuyển nhượng đất cho bà O là để sửa nhà và lấy vốn chăn nuôi). Trường hợp anh trả nợ xong cho Ngân hàng, Ngân hàng trả giấy đỏ cho anh thì anh sẽ làm thủ tục sang tên tách thửa cho bà Nguyễn Thị O đối với diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 loại đất trồng lúa, còn nếu không trả tiền cho Ngân hàng mà dẫn đến Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp trong đó có phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho bà O thì anh đồng ý hoàn trả giá trị đất, cây trái và công sức cải tạo đất cho bà O là 200.000.000 đồng
Tại đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày18/3/2024 quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị O: Ngày 05/7/2021 chị có nhận chuyển nhượng diện tích đất 1.800 m² của ông Trần Văn T với giá là 120.000.000 đồng việc nhận chuyển nhượng có làm giấy tay mua bán với nhau nhưng chưa làm thủ tục sang tên tách thửa do phần đất chị chuyển nhượng ông T đang thế chấp tại Ngân hàng, sau khi nhận chuyển nhượng bà đã canh tác sử dụng (trồng dừa). Nay bà yêu cầu ông T và anh S phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 1.800 m² (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.890 m²) thuộc thửa 1072. Trường hợp nếu Tòa án xử lý hợp đồng thế chấp tài sản kể cả phần đất mà bà nhận chuyển nhượng thì bà đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với ông T và anh S, bà yêu cầu ông Trần Văn T và anh Trần Ngọc S phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị đất, cây cối có trên đất và công sức cải tạo đất cho bà bằng 200.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi.
Tại bản tự khai ngày 19/3/2024 anh Trần Văn A trình bày: số tiền mà anh S và ông T ký hợp đồng vay vốn của Ngân hàng là để cho anh lấy vốn làm ăn. Nay anh cam kết đến ngày 20/4/2024 anh sẽ trả nợ đủ vốn và lãi cho Ngân hàng, nếu trường hợp không thực hiện đúng lời hứa thì đồng ý để Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
3
Ý kiến trình bày của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26; 35; 39; 147; 157 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 117; 318; 324; 463; 466; 468 và Điều 500 của bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Trà Vinh. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bà Nguyễn Thị O.
- Về chi phí thẩm định và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
- Hợp đồng tín dụng số 7404LAV202200891 ngày 17/3/2022 (bản sao có chứng thực)
- Báo cáo đề xuất cho vay ngày 17/3/2022 (bản sao có chứng thực)
- Phương án sử dụng vốn vay (bản sao có chứng thực)
- Hợp đồng ủy quyền ngày 15/12/2020 (bản sao có chứng thực)
- Phụ lục hợp đồng thế chấp số 01/P1 ngày 16/3/2022 thuộc hợp đồng thế chấp số 327/HĐTC ngày 15/12/2020 (bản sao có chứng thực)
- Biên bản kiểm tra xử lý nợ vay ngày 17/3/2023 (bản sao có chứng thực)
- Biên bản kiểm tra xử lý nợ vay ngày 28/3/2023 (bản sao có chứng thực)
- Biên bản kiểm tra xử lý nợ vay ngày 17/4/2023 (bản sao có chứng thực)
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 327/HĐTC ngày 15/12/2020 (bản sao có chứng thực )
- Biên bản xác định giá trị tài sản ngày 15/12/2020 (bản sao có chứng thực)
- Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp ngày 15/12/2020 (bản sao có chứng thực)
- 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 1072; 1086 và 1088 bản sao có chứng thực
- Giấy tay mua bán đất giữa bà Nguyễn Thị O với ông Trần Văn T
Các tình tiết của vụ án các bên thống nhất: Anh Trần Văn S1 thừa nhận có ký kết Hợp đồng tín dụng số 7404LAV202200891 ngày 17/3/2022 và hợp đồng thế chấp Phụ lục hợp đồng thế chấp số 01/P1 ngày 16/3/2022 thuộc hợp đồng thế chấp số 327/HĐTC ngày 15/12/2020 thống nhất có nợ số tiền vốn 410.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn và quá
4
hạn đến ngày xét xử theo như hợp đồng đã ký kết.
Các tình tiết của vụ án các bên không thống nhất: không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1 và chị Từ Thị Ngọc T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Hồng N2 (H) và anh Trần Văn  vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1 và chị Từ Thị Ngọc T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Hồng N2 (H) và anh Trần Văn Â.
[2]. Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Trà Vinh là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Ngày 18/3/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu ông Trần Văn T và anh Trần Ngọc S phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 tờ bản đồ số 02 loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh do hộ ông Trần Văn T đứng tên. Nên quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
[3]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Thành N đại diện cho Ngân hàng N4 chi nhánh T, Trà Vinh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 phải có nghĩa vụ trả nợ vay cho ngân hàng số tiền vốn bằng 410.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 31/5/2024 là 106.837.383 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 01/6/2024 theo thỏa thuận ghi trong Hợp đồng tín dụng số 7404LAV202200891 ngày 17/3/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho ngân hàng. Trường hợp ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 không thanh toán hết nợ vay thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là 03 quyền sử dụng đất gồm: Diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 loại đất trồng lúa; Diện tích đất 1.540 m² thuộc thửa số 1086 loại đất ở - cây ăn quả; Diện tích đất 3.920 m² thuộc thửa số 1088 loại đất trồng lúa cùng tờ bản đồ số 02 cùng tọa lạc tại ấp N, xã T, huyện T tỉnh Trà Vinh cùng do hộ ông Trần Văn T đứng tên quyền sử dụng đất để thu hồi nợ.
[3]. Bà Nguyễn Thị O vẫn giữ nguyên đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu ông Trần Văn T và anh Trần Ngọc S phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 tờ bản đồ số 02 loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh do hộ ông Trần Văn T đứng tên quyền sử dụng đất, trường hợp nếu Tòa án xét xử, xử lý diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 thì bà yêu cầu ông Trần Văn T và anh Trần Ngọc S phải bồi thường giá trị đất, cây cối và công sức cải tạo đất cho bà bằng 200.000.000 đồng.
[4]. Đối với hợp đồng tín dụng: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa anh Trần Ngọc S thừa nhận ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh S và chị Từ Thị Ngọc T1 có ký
5
kết hợp đồng tín dụng số LD 7404LAV202200891 ngày 17/3/2022 để vay vốn Ngân hàng số tiền là 410.000.000 đồng, hiện còn nợ Ngân hàng số tiền vốn bằng 410.000.000 đồng và tiền lãi theo hợp đồng cho đến nay. Từ đó cơ cơ sở xác định ông T, bà N1, anh S và chị T1 có ký hợp đồng tín dụng số 7404LAV202200891 ngày 17/3/2022 để vay vốn của Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, nên buộc ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Trà Vinh số tiền bằng 516.837.383 đồng (Trong đó tiền vốn bằng 410.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 31/5/2024 là 106.837.383 đồng)
[5]. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Quá trình tố tụng bị đơn anh Trần Ngọc S thừa nhận anh với ông T, bà N1 và chị T1 có ký hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay trên, nhưng trong phần tài sản thế chấp cho Ngân hàng thì ông Trần Văn T và anh có chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị O, nay nếu Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thì anh cũng đồng ý nhưng anh xin lại thửa đất số 1086 để anh lại cho cha mẹ anh có chổ ở và đất để canh tác, còn đối với diện tích đất đã chuyển nhượng cho bà O thì anh đồng ý bồi hoàn giá trị đất, cây cối và công sức cải tạo đất cho bà O bằng 200.000.000 đồng. Xét yêu cầu của anh S xin lại thửa đất số 1086 để cho cha mẹ anh ở và có đất để canh tác, phía Ngân hàng không chấp nhận, mặc khác anh S vẫn thừa nhận có ký hợp đồng thế chấp đối với thửa đất 1086 nên cần phải xử lý tài sản để thu hồi nợ trường hợp ông T, anh S, bà N1 và chị T1 không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng .
[5]. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị O. Quá trình tố tụng bà O và anh S thừa nhận hai bên có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 1072 đã giao nhận tiền và giao nhận tài sản xong, nhưng do thời điểm hai bên chuyển nhượng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thế chấp tại Ngân hàng nên không thực hiện thủ tục sang tên được. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà O và anh S thống nhất giá trị đất và cây cối trên đất là 200.000.000 đồng, tại phiên tòa bà O thống nhất hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/7/2021 giữa ông Trần Văn T với bà và yêu cầu ông T và anh S phải có nghĩa thanh toán cho bà O giá trị đất, cây cối và công sức cải tạo đất bằng 200.000.000 đồng, anh S cũng đồng ý xét thấy đây là sự tự nguyện của bà O và ông S nên Hội đồng xét xử ghi nhận., nên buộc ông Trần văn T2 và anh Trần Ngọc S phải có nghĩa vụ bồi thường giá trị đất, cây cối và công sức cải tạo đất cho bà O bằng 200.000.000 đồng là cơ cơ sở.
[5]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 9.344.941 đồng. Do chấp nhận yêu khởi kiện của Ngân hàng vì vậy buộc ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ
Về án phí sơ thẩm 32.673.495 đồng: ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 phải chịu theo quy định của pháp luật. Do ông Trần Văn T và bà Phạm Thị N1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho ông Trần Văn T và bà Phạm Thị N1. Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T không phải chịu án phí.
Từ những nhận định trên chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Trà Vinh, chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị O, chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần. Buộc ông Trần Văn T,
6
bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 phải có nghĩa hoàn trả số tiền nợ cho Ngân hàng bằng 516.837.383 đồng (trong đó tiền vốn là 410.000.000 đồng tiền lãi tính đến ngày 31/5/2024 là 106.837.383 đồng). Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn T với bà Nguyễn Thị O ngày 05/7/2021 là vô hiệu, buộc ông Trần Văn T và anh Trần Ngọc S phải hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị o, giá trị đất, giá trị cây cối trên đất và công sức cải tạo đất cho bà O bằng 200.000.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26; 35; 39; 147; 157 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 117; 318; 324; 463; 466; 468 và 500 của bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 99 và Điều 100 Luật tổ chức tín dụng năm 2024;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T, tỉnh Trà Vinh. Buộc Buộc ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 phải có nghĩa hoàn trả số tiền nợ cho Ngân hàng bằng 516.837.383 đồng (trong đó tiền vốn là 410.000.000 đồng tiền lãi tính đến ngày 31/5/2024 là 106.837.383 đồng) và lãi phát sinh theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng số 7404LAV202200891 ngày 17/3/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
Kể từ ngày 01/6/2024 ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn ghi trong hợp đồng tín dụng số số 7404LAV202200891 ngày 17/3/2022 cho đến khi thi hành án xong.
Khi án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 không trả được nợ thì Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: 03 quyền sử dụng đất gồm: Diện tích đất 1.890 m² thuộc thửa 1072 loại đất trồng lúa; Diện tích đất 1.540 m² thuộc thửa số 1086 loại đất ở - cây ăn quả; Diện tích đất 3.920 m² thuộc thửa số 1088 loại đất trồng lúa cùng tờ bản đồ số 02 cùng tọa lạc tại ấp N, xã T, huyện T tỉnh Trà Vinh cùng do hộ ông Trần Văn T đứng tên quyền sử dụng đất để thu hồi nợ.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn T với bà Nguyễn Thị O ngày 05/7/2021 là vô hiệu. Buộc ông Trần Văn T và anh Trần Ngọc S phải hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị O, giá trị đất, giá trị cây cối trên đất và công sức cải tạo đất của bà O bằng 200.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của
7
bên được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 phải chịu 9.344.941 đồng. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần thu từ ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 để hoàn trả cho Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T
- Về án phí: Buộc ông Trần Văn T, bà Phạm Thị N1, anh Trần Ngọc S và chị Từ Thị Ngọc T1 phải chịu 32. 673.495 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Do ông Trần Văn T và bà Phạm Thị N1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bà Phạm Thị N1 và ông Trần Văn T. Anh Trần Ngọc S và chị Từ thị Ngọc T3 phải nộp tiền án phí là 16.336.747 đồng.
Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng N4 số tiền tạm ứng án phí bằng 11.314.559 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0017060 ngày 09/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.
Bà Nguyễn Thị O không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị O số tiền tạm ứng án phí bằng 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003004 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thạch Thị Thu Hiền |
8
|
Các hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
9
Bản án số 47/2024/DSST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 47/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N với anh Trần Ngọc S
