|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2024 V/v “Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Từ Tứ Hải
- Bà Nguyễn Thị Việt Tím
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh, thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên toà.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Ngọc D, sinh năm 1995 (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hưng T, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn chị Đoàn Thị Ngọc D trình bày: Chị và anh Nguyễn Hưng T chung sống với nhau vào ngày 31/10/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 28/10/2015. Trước khi chung sống, vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoảng 3 tháng, hôn nhân tự nguyện không bị cưỡng ép.
Sau khi chung sống, thời gian đầu vợ chồng rất hạnh phúc. Đến khoảng tháng 10/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, không thấu hiểu lẫn nhau. Từ đó dẫn đến đời sống vợ chồng không được hạnh phúc, vợ chồng chị đã ly thân từ ngày 31/10/2016 cho đến nay.
Nay chị D cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Đoàn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 02/01/2017. Hiện nay cháu Mỹ A đang sống với mẹ và cháu Mỹ A có nguyện vọng được sống mới mẹ sau khi chị D, anh T ly hôn.
- Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung.
Tại phiên toà chị Đoàn Thị Ngọc D yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hưng T.
- Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đoàn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 02/01/2017. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Hưng T: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho anh Nguyễn Hưng T tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng anh T đều không có mặt và không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Nguyễn Hưng T đang cư trú ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự .
[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Hưng T mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, phía chị D đồng ý xét xử vắng mặt anh T. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T là hôn nhân hợp pháp, vì anh, chị chung sống với nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang vào ngày 28/10/2015 theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị D là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc. Tuy nhiên sau một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chị D có quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, không thấu hiểu lẫn nhau, từ đó có nhiều bất đồng quan điểm không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến mâu thuẫn càng trầm trọng, không thể giải quyết được nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã cố gắng động viên chị D về đoàn tụ chung sống với anh T để vợ chồng cùng nhau nuôi dưỡng con chung, nhưng phía chị D xác định tình cảm giữa chị và anh T không còn, vợ chồng đã không còn khả năng hàn gắn nên chị cương quyết ly hôn với anh T.
Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian ly thân vợ chồng chị D, anh T không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thể hiện được tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;.... Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,…………”, điều này chứng tỏ hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng không khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt họp lệ cho anh T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như triệu tập anh T tham gia phiên tòa nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ rằng anh T không có thiện chí muốn hòa giải để trở về tiếp tục cuộc sống vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị D.
[4]Về con chung: Xét yêu cầu xin được nuôi cháu Đoàn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 02/01/2017 của chị D, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Biên bản ghi nhận nguyện vọng ngày 10/6/2024, cháu Đoàn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 02/01/2017 đề đạt nguyện vọng được sống chung với mẹ sau khi chị D, anh T ly hôn. Hơn nữa, từ ngày vợ chồng ly thân đến nay, chị D vẫn là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Mỹ A, nếu đột ngột thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì ít nhiều cũng ảnh hưởn đến tâm lý và môi trường sống của cháu Mỹ A. Do đó, để đảm bảo điều kiện cho cháu Mỹ A được phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần, Hội đồng xét xử thống nhất tiếp tục giao cháu Đoàn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 02/01/2017 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu Mỹ A.
Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Hưng T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đoàn Thị Ngọc D không yêu cầu.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị D xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Từ những nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Đoàn Thị Ngọc D.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Ngọc D được ly hôn với anh Nguyễn Hưng T.
Về quan hệ con chung: Giao cháu Đoàn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 02/01/2017 cho chị D tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Hưng T được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
Về tài sản chung: Chị D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí:
Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Đoàn Thị Ngọc D phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.
[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Thị Ngọc D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị Ngọc D được ly hôn với anh Nguyễn Hưng T.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Đoàn Ngọc Mỹ A, sinh ngày 02/01/2017 cho chị D tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Hưng T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Hưng T được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị D xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Đoàn Thị Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003671 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị Ngọc D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với anh Nguyễn Hưng T có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ánh Nguyệt |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đoàn Thị Ngọc D yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hưng T
