Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI,

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HSST

Ngày: 30-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Đen;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Quang Minh;

2. Ông Nguyễn Việt Thắng.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Tiên, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T. Sinh ngày 06 tháng 10 năm 1999 tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Minh H, sinh năm 1976; Mẹ: Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1977; Vợ: Lê Kim N, sinh năm 2003 (đã ly hôn); Con: Có 01 người con sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: 01, tại Quyết định số 19/QĐ-XPHC ngày 08/7/2024 của Trưởng Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị tạm giữ (trong trường hợp bắt quả tang) từ ngày 05/01/2024, sau đó khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 05 tháng 01 năm 2024 đội đặc nhiệm số 4 Bộ tư lệnh cảnh sát biển bắt quả tang Nguyễn Văn T, đang tàng trữ trái phép chất ma túy, tại khóm A thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, qua kiểm tra thu được 1 bao thuốc Sevendiamonds được cuốn băng keo màu đen bên ngoài ở trên yên xe chỗ Tí ngồi, trong gói thưốc lá có 1 bịch nilon có viền màu đỏ bên trong có chứa ma túy.

Quá trình điều tra T khai nhận vào ngày 05 tháng 01 năm 2024 Tí đến dốc cầu G thuộc phường G, thành phố C, gặp một đối tượng tên Beo, nhưng không biết địa chỉ ở đâu, mua 5.500.000 đồng ma tuý. Beo đồng ý sau đó T trả trước cho B 3.000.000 đồng, số tiền còn lại thiếu Beo, sau đó B kêu T đi đến chậu cây cặp bờ sông dưới cầu G lấy ma tuý được để trong bao thuốc lá Sevendiamonds có quấn băng keo màu đen bên ngoài, bên trong có ma tuý, T làm theo hướng dẫn của B đi đến chậu cây phát hiện có bao thuốc lá được quấn băng keo bên ngoài, bên trong có chứa ma tuý, T lấy bao thuốc lá bỏ vào túi quần bên phải đi về nhà ở xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau, lấy ra một ít sử dụng, số còn lại Tí cất giấu trong bao thuốc lá, đến 18 giờ cùng ngày T lấy bao thuốc lá có chứa ma tuý, thuê anh Lê Hữu N1 là người chạy xe ôm chở từ xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau, xuống Sông Đ, để tìm kiếm ghe đi biển và để sử dụng ma tuý, khi đến khóm A thị trấn S, bị Đội đặc nhiệm số 4 Bộ tư lệnh cảnh sát biển và Công an thị trấn S, bắt quả tang. thu bao thuốc lá bên trong có chứa ma tuý niêm phong gửi đi giám định có khối lượng. 8,2104 gam, là loại Mê thamphetamine.

Kết quả giám định số 03 ngày 9. 1. 2024 của phòng kỹ thuật hình sư, Công an tỉnh C, kết luận có khối lượng 8,2104 gam, là loại Mê thamphetamine.

Tang vật thu giữ

  • 1 vỏ bao thuốc lá hiệu Sevendiamonds
  • 1 bịch nilon màu trắng bóp miệng màu đỏ, bên trong có chứa ma tuý
  • 1 đoạn băng keo màu đen.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 05 năm tù đến 06 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (Một) phong bì niêm phong vụ số 03/2024 ngày 06/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S;
  • + 01 (Một) vỏ bao thuốc lá hiệu Sevendiamonds;
  • + 01 (Một) đoạn băng keo màu đen.

Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giảm nhẹ hình

phạt. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo có mẹ già và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1 và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 18 giờ ngày 05 tháng 01 năm 2024, Nguyễn Văn T, đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị bắt quả tang tại Cảng cá S thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, thu giữ 1 bịch nilon màu trắng được bóp kín miệng bên trong đều có chứa chất ma túy. Tổng khối lượng ma túy 8,2104 gam, là loại Methamphetamine

Hành vi của bị cáo T đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy quy định luật phòng chống ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy, bị cáo T đã đủ 18 tuổi, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1 truy tố bị cáo là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

g) Heroine, C, M... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo có 01 tiền sự, tại Quyết định số 19/QĐ-XPHC ngày 08/7/2024 của Trưởng Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có con nhỏ, đã ly hôn với vợ nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt: Bị cáo, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện hoặc một lý do nào khác mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, trọng lượng ma tuý mà bị cáo tàng trữ là tương đối

lớn. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Tại Quyết định số 19/QĐ-XPHC ngày 08/7/2024 của Trưởng Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, sau đó không bao lâu bị cáo lại sa vào con đường tái phạm và phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, điều này cho thấy bị cáo chưa có ý chí quyết tâm cao trong việc cai nghiện ma tuý.

Vì vậy, sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhất định để giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[4] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn T, Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Riêng đối tượng bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra cũng chưa làm việc được nên tách ra tiếp tục điều tra có căn cứ sẻ xữ lý tiếp. Riêng Lê Hữu N1, quá trình điều tra có căn cứ chứng minh không liên quan trong vụ án là đúng quy định pháp luật.

[5] Vật chứng trong vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng:

  • + 01 (Một) phong bì niêm phong vụ số 03/2024 ngày 06/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S;
  • + 01 (Một) vỏ bao thuốc lá hiệu Sevendiamonds;
  • + 01 (Một) đoạn băng keo màu đen.

[6] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2 về án phí và lệ phí Tòa án bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 47, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 05/01/2024.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (Một) phong bì niêm phong vụ số 03/2024 ngày 06/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S;
  • + 01 (Một) vỏ bao thuốc lá hiệu Sevendiamonds;
  • + 01 (Một) đoạn băng keo màu đen.

Hiện trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - CQ CSĐT Công an H. Trần Văn Thời;
  • - Nhà tạm giữ Công an H. Trần Văn Thời;
  • - CC THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger