Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm – Cán bộ hưu trí;

Bà Võ Thị Thu Thảo – Giáo viên hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐX XST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2006 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Tổ B, ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1977 và bà Tăng K, sinh năm 1983; bị cáo có 01 người em, sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Về nhân thân: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2022/HS-ST ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã xử phạt bị cáo 11 (mười một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 972/GCN ngày 10/11/2023 của Trại giam L thuộc Cục C – Bộ C1 xác định bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/11/2023. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 31/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P xác định bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm của Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2022/HS-ST ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương theo Biên lai thu số AA/2021/0004893 ngày 03/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Căn cứ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 198/QĐ-XPHC ngày 27/01/2022 của Công an huyện P xử phạt bằng hình thức cảnh cáo về hành vi mua bán trái phép chất ma túy do chưa đủ 16 tuổi.

- Căn cứ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 141/QĐ-XPHC ngày 15/3/2022 của Công an huyện P xử phạt bằng hình thức cảnh cáo về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy do chưa đủ 16 tuổi.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 cho đến nay; có mặt.

  1. Họ và tên: Nguyễn Trung N, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2005 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1985; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 cho đến nay; có mặt.

  1. Họ và tên: Trần Gia B, sinh ngày 17 tháng 01 năm 1984 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức T, sinh năm 1945 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1945; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2004; bị cáo có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn A: Ông Lê Văn M1, Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tuấn A: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2005; địa chỉ: Tổ C, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Minh A1; vắng mặt.
  2. Lê Hồng Â; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 20/12/2023, Nguyễn Tuấn A điều khiển mô tô 61F1-245.92 đến khu vực siêu thị C2, huyện Đ, tỉnh Bình Phước mua ma túy của đối tượng H1 (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, Tuấn A về nhà. Khoảng 17 giờ, ngày 20/12/2023, Tuấn A rủ Lê Hồng  và Nguyễn Trung N đến phòng trọ của Trần Gia B chơi, tại địa chỉ: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Tại phòng trọ của B, Tuấn A rủ B, Â, N sử dụng ma túy thì tất cả đồng ý. B lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của B đưa cho Tuấn A. Tuấn A lấy một phần ma túy trong một bịch ma túy Tuấn A mua trước đó bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi Tuấn A, Â, N, B cùng nhau sử dụng ma túy, số ma túy còn lại Tuấn A cất giữ trong người. Sau khi sử dụng ma túy, N về nhà còn Â, Tuấn A ở lại phòng trọ của B chơi. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Tuấn A gọi điện thoại cho N kêu N đi bán ma túy cho đối tượng T1 (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tại khu vực ngã ba Đài Loan thuộc xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, N đồng ý. N điều khiển xe mô tô biển số 61F1-199.75 đến phòng trọ của B gặp Tuấn A lấy 01 (một) túi nylon miệng hàn kín bên trong có chứa ma túy và 01 (một) nỏ thủy tinh, Tuấn A cho N số điện thoại của T1 để khi đến nơi N gọi để giao ma túy. Khoảng 19 giờ cùng ngày, trên đường N đi giao ma túy đến đoạn đường thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương thì N bị lực lượng Công an xã V phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - kinh tế bắt quả tang.

Qua lời khai của N, lực lượng Công an đưa N về nhà trọ của B, lực lượng Công an đã thu giữ của Tuấn A một túi nylon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy và thu giữ tại nhà trọ của B một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa, 01 (một) nỏ thủy tỉnh (đã bị vỡ) và 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) quẹt khò. Qua làm việc Tuấn A, Â, B, N khai nhận hành vi phạm tội.

Ngoài ra, quá trình điều tra Tuấn A khai nhận: Vào ngày 20/12/2023 ngoài lần bán ma túy cho đối tượng T1 thì Tuấn A có hai lần bán ma túy cho Nguyễn Minh A1, sinh năm: 1998, cư trú: Ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), lần thứ nhất Tuấn A bán ma túy cho A1 vào ngày 05/12/2023, giao ma túy tại đường bê tông gần Trường THCS V, thuộc ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; lần thứ hai Tuấn A nói N đi giao ma túy cho Nguyễn Minh A1 nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm.

Qua điều tra Nguyễn Trung N khai nhận ngoài lần giúp cho Tuấn A đi bán ma túy cho T1 vào ngày 20/12/2023, trước đó, N đã giúp Tuấn A đi bán ma túy cho Nguyễn Minh A1 02 lần, mỗi lần được cho 100.000 đồng, lần thứ nhất Tuấn A bán ma túy cho Nguyễn Minh A1 vào ngày 05/12/2023; lần thứ hai Tuấn A nói N đi giao ma túy cho Nguyễn Minh A1 nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm. N được Tuấn A trả công 100.000 đồng hoặc cho ma túy để N sử dụng mỗi lần N giúp Tuấn A bán ma túy.

Bản kết luận giám định số 85/KL-KTHS(MT) ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận mẫu giám định thu của Nguyễn Trung N như sau: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3488 gam, loại Methamphetamine.

Bản kết luận giám định số 86/KL-KTHS(MT) ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận mẫu giám định thu của Nguyễn Tuấn A như sau: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,7203 gam, loại Methamphetamine.

Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 85/PC09 (là mẫu vật gửi giám đính trong QĐTC giám định số 244/QĐ ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trung N (người chứng kiến), Trần Hoàng H2 (Bên trả mẫu); Trần Mạnh H3 (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M= 0,3488 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,3336 gam.

- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 86/PC09 (là mẫu vật gửi giám đính trong QĐTC giám định số 245/QĐ ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Tuấn A (người chứng kiến), Trần Hoàng H2 (Bên trả mẫu); Trần Mạnh H3 (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M = 3,7203 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=3,4364 gam.

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa, 02 (hai) nỏ thủy tỉnh (01 nỏ đã bị vỡ) và 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) quẹt khò.

- Thu giữ của Nguyễn Trung N 01 (một) xe mô tô BKS: 61F1-199.75. Xe mô tô là do ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1986, HKTT: ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Ông H cho N mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết N sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông H.

- Thu giữ của Nguyễn Tuấn A 01 (một) xe mô tô BKS: 61F1-245.92. Xe mô tô do Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2005, HKTT: ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Đ bán lại xe cho Tuấn A nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Tuấn A sử dụng xe mô tô làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

- Thu giữ của Nguyễn Trung N 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen. Thu giữ của Nguyễn Tuấn A 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu trắng.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKSPG ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Trung N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Gia B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

  1. Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự

Bị cáo Nguyễn Tuấn A mức hình phạt từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Bị cáo Nguyễn Tuấn A mức hình phạt từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Bị cáo Nguyễn Tuấn A mức hình phạt từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt chung của ba tội, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là từ 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 14 (mười bốn) năm 09 (chín) tháng tù.

  1. Bị cáo Nguyễn Trung N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Trung N mức hình phạt từ 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù;
  2. Bị cáo Trần Gia B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo Trần Gia B mức hình phạt từ 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 85/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu giám định số 244/QĐ ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trung N (người chứng kiến), Trần Hoàng H2 (Bên trả mẫu); Trần Mạnh H3 (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M=0,3488 gam, loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,3336 gam, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị tịch thu tiêu hủy.

01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 86/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu giám định số 245/QĐ ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Tuấn A (người chứng kiến), Trần Hoàng H2 (Bên trả mẫu); Trần Mạnh H3 (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M=3,7203 gam, loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=3,4364 gam, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị tịch thu tiêu hủy.

01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa, 02 (hai) nỏ thủy tỉnh (01 nỏ đã bị vỡ) và 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) quẹt khò. Đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

01 (một) xe mô tô biển số: 61F1-245.92 (số máy: 5C6K-220763, số khung: RLCS5C6K0FY220800, xe không kính chiếu hậu, không kiểm tra bên trong máy). Đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, có chữ ký của Phạm Thị H4Trần Mạnh H3). Đây là phương tiện dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu trắng (mặt sau điện thoại bị vỡ hoàn toàn, niêm phong có dấu đỏ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, có chữ ký của Phạm Thị H4Trần Mạnh H3). Đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn A trình bày lời bào chữa: Không khiếu nại, ý kiến trong quá trình tố tụng của vụ án, về tội danh, mức hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị, đề nghị cần xem xét nhân thân bị cáo phạm tội khi chưa thành niên nên còn hạn chế nhận thức, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần xử lý người chưa thành niên phạm tội phù hợp quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn A thừa nhận: Ngày 20/12/2023, tại phòng trọ của bị cáo Trần Gia B thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Tuấn A có hành vi cung cấp nguồn ma túy để Tuấn A, Nguyễn Trung N, Nguyễn Hồng Â1Trần Gia B cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi tàng trữ 3,4364 gam, loại methamphetamine mục đích để sử dụng và có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng T1 (không rõ lai lịch) vào ngày 20/12/2023 và hai lần bán ma túy cho Nguyễn Minh A1.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung N thừa nhận vào khoảng 19 giờ, ngày 20/12/2023, tại đoạn đường thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo có hành vi giúp cho bị cáo Nguyễn Tuấn A bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 bịch ma túy có khối lượng 0,3488 gam, loại Methamphetamine. Ngoài ra, trước đó bị cáo N đã thực hiện hành vi giúp cho bị cáo Nguyễn Tuấn A bán ma túy trái phép cho Nguyễn Minh A1 02 lần và thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Gia B thừa nhận vào khoảng 17 giờ ngày 20/12/2023, bị cáo có hành vi cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy và địa điểm để bị cáo B cùng với các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Trung N và bà Nguyễn Hồng Â1 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Các bị cáo thống nhất với kết luận của cơ quan giám định về khối lượng, loại chất ma túy, tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Tuấn A: Bị cáo biết tàng trữ, mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về đoàn tụ gia đình.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Trung N: Bị cáo biết mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Gia B: Bị cáo biết tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Trung NTrần Gia B khai nhận:

[3] Vào ngày 20/12/2023, tại phòng trọ của bị cáo Trần Gia B thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Tuấn A có hành vi cung cấp nguồn ma túy để Tuấn A, Nguyễn Trung NNguyễn Hồng Â1, Trần Gia B cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Tuấn A còn có hành vi tàng trữ 3,4364 gam, loại methamphetamine, mục đích để sử dụng và có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng T1 (không rõ lai lịch) vào ngày 20/12/2023 và hai lần bán trái phép ma túy cho đối tượng Nguyễn Minh A1.

[4] Vào khoảng 19 giờ, ngày 20/12/2023, tại đoạn đường thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Trung N đã có hành vi giúp cho bị cáo Nguyễn Tuấn A bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 bịch ma túy có khối lượng 0,3488 gam, loại Methamphetamine. Ngoài ra, trước đó vào ngày 05/12/2023, một lần không nhớ rõ ngày, bị cáo Nguyễn Trung N đã thực hiện hành vi giúp cho bị cáo Tuấn A bán trái phép ma túy cho Nguyễn Minh A1 02 lần.

[5] Vào khoảng 17 giờ ngày 20/12/2023, bị cáo Trần Gia B có hành vi cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy và địa điểm để các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Trung N và bà Nguyễn Hồng Â1, bị cáo B cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

[6] Căn cứ Bản kết luận giám định số 85/KL-KTHS (MT) ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận mẫu giám định thu của bị cáo Nguyễn Trung N như sau: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3488 gam, loại Methamphetamine.

[7] Căn cứ Bản kết luận giám định số 86/KL-KTHS(MT) ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận mẫu giám định thu của bị cáo Nguyễn Tuấn A như sau: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,7203 gam, loại Methamphetamine.

[8] Hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn A tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng 3,4364 gam (loại Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Tuấn A còn bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tên T1 (không rõ lai lịch) 01 (một) lần và Nguyễn Minh A1 02 (hai) lần nên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Tuấn A có hành vi cung cấp nguồn ma túy cho bị cáo Nguyễn Trung N, bị cáo Trần Gia B và bà Nguyễn Hồng Â1 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[9] Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung N giúp cho bị cáo Nguyễn Tuấn A bán 0,3488 gam (loại Methamphetamine) cho đối tượng T1. Ngoài ra, trước đó vài ngày bị cáo Nguyễn Trung N đã thực hiện hành vi giúp cho Tuấn A bán ma túy cho Nguyễn Minh A1 02 lần đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[10] Hành vi của bị cáo Trần Gia B cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy và địa điểm để bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Trung N và bà Nguyễn Hồng Â1 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[11] Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Trung N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Gia B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[12] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[13] Hành vi tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây tổn hại đến sức khỏe của bản thân các bị cáo mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác.

[14] Xét động cơ, mục đích phạm tội vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, hậu quả gây ra cho xã hội để thực hiện hành vi phạm tội. Vụ án mang tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn cùng thực hiện tội phạm, bị cáo Nguyễn Tuấn A tàng trữ 3,4364 gam (loại Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Tuấn A còn bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tên T1 (không rõ lai lịch) 01 (một) lần và Nguyễn Minh A1 02 (hai) lần; bị cáo Nguyễn Tuấn A có hành vi cung cấp nguồn ma túy cho bị cáo Nguyễn Trung N, Trần Gia BNguyễn Hồng Â1 cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò chính. Đối với bị cáo Nguyễn Trung N biết mua bán, bị cáo Trần Gia B biết tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tham gia mua bán, tổ chức sử dụng ma túy trái phép nên giữ vai trò thấp hơn bị cáo Nguyễn Tuấn A; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

[15] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[16] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[17] Bị cáo Nguyễn Tuấn A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo được áp dụng các quy định dành cho người chưa thành niên phạm tội tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự để xem xét hình phạt cho bị cáo.

[18] Bị cáo Nguyễn Trung N, bị cáo Trần Gia B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[19] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, nội dung bào chữa của người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, điều khoản áp dụng, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[20] Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 85/PC09 (là mẫu vật gửi giám đính trong Quyết định trưng cầu giám định số 244/QĐ ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trung N (người chứng kiến), Trần Hoàng H2 (Bên trả mẫu); Trần Mạnh H3 (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M=0,3488 gam, loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,3336 gam, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[21] 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 86/PC09 (là mẫu vật gửi giám đính trong Quyết định trưng cầu giám định số 245/QĐ ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Tuấn A (người chứng kiến), Trần Hoàng H2 (Bên trả mẫu); Trần Mạnh H3 (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M=3,7203 gam, loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=3,4364 gam, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[22] 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa, 02 (hai) nỏ thủy tỉnh (01 nỏ đã bị vỡ) và 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) quẹt khò. Đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[23] 01 (một) xe mô tô biển số: 61F1-245.92 (số máy: 5C6K-220763, số khung: RLCS5C6K0FY220800, xe không kính chiếu hậu, không kiểm tra bên trong máy). Đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[24] 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, có chữ ký của Phạm Thị H4Trần Mạnh H3). Đây là phương tiện dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[25] 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu trắng (mặt sau điện thoại bị vỡ hoàn toàn, niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, có chữ ký của Phạm Thị H4Trần Mạnh H3). Đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[26] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Tuấn A, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[27] Đối với đối tượng tên T1, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.

[28] Đối với Nguyễn Minh A1, Lê Hồng  là các đối tượng nghiện ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P giao các đối tượng cho địa phương để lập hồ sơ quản lý cai nghiện tại địa phương theo quy định.

[29] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Trần Gia B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt của ba tội, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/12/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/12/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Gia B 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án gồm:

01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 85/PC09 (là mẫu vật gửi giám đính trong QĐTC giám định số 244/QĐ ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trung N (người chứng kiến), Trần Hoàng H2 (Bên trả mẫu); Trần Mạnh H3 (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M= 0,3488 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,3336 gam.

01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 86/PC09 (là mẫu vật gửi giám đính trong QĐTC giám định số 245/QĐ ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Tuấn A (người chứng kiến), Trần Hoàng H2 (Bên trả mẫu); Trần Mạnh H3 (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M = 3,7203 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=3,4364 gam.

01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa, 02 (hai) nỏ thủy tỉnh (01 nỏ đã bị vỡ) và 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) quẹt khò.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô BKS: 61F1-245.92 (Số máy: 5C6K-220763, số khung: RLCS5C6K0FY220800, xe không kính chiếu hậu, không kiểm tra bên trong máy). 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, có chữ ký của Phạm Thị H4Trần Mạnh H3). 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu trắng (mặt sau điện thoại bị vỡ hoàn toàn, niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, có chữ ký của Phạm Thị H4Trần Mạnh H3).

Các vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/4/2024.

4. Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Trung N nộp lại số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) thu lợi trái pháp luật từ việc mua bán trái phép chất ma túy.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Trung NTrần Gia B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương;01

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;01

- VKSND tỉnh Bình Dương;01

- PV06 Công an tỉnh Bình Dương;01

- VKSND H. Phú Giáo:01

- CQCSĐT Công an H. Phú Giáo;03

- Đội CSTHAHS và HTTP:03

- UBND xã Vĩnh Hòa, H. Phú Giáo,

T. Bình Dương (thay thông báo)03

- Chi cục THADS H. Phú Giáo;01

- Bị cáo; người tham gia tố tụng;07

- Lưu: HS, VP.02

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ, Mua bán, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn A và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger