|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 30/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Minh và bà Hoàng Thị Thu Hà.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Ngọc Hiếu – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 20/10/1957 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1931. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1933 (đã chết). Anh chị em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ hai. Họ và tên vợ: Phạm Thị K, sinh năm 1966. Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1993. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 26/7/2023 của Công an xã N, tỉnh Nghệ An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt theo Biên lai số 0001314 ngày 08/8/2023. Tiền án: Không. Bị cáo Nguyễn Văn T bị áp dụng "Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Quyết định hoãn xuất cảnh" từ ngày 07/3/2024 cho đến nay tại xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
-
Họ và tên: Nguyễn Nhật N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10/9/1971 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 3/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn Nhật Á, sinh năm 1925 (đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị E, sinh năm 1935 (đã chết). Anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ năm. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1978. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2002. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 26/7/2023 của Công an xã N, tỉnh Nghệ An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt theo Biên lai số 0001313 ngày 08/8/2023.Tiền án: Không. Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 14/02/2022 của Công an xã N, tỉnh Nghệ An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt theo Biên lai số 0022992 ngày 20/02/2022. Bị cáo Nguyễn Nhật N bị áp dụng "Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Quyết định hoãn xuất cảnh" từ ngày 07/3/2024 cho đến nay tại xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Ông Trần Văn N2, sinh năm 1969. Địa chỉ: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
-
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1976. Địa chỉ: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 27/02/2024, Nguyễn Văn T mời Nguyễn Nhật N, Trần Văn N2 (sinh năm 1969, trú tại xóm F, xã N, huyện N), Nguyễn Văn C (sinh năm 1976, trú tại xóm G, xã N, huyện N) đến nhà T ở xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để uống rượu. Sau khi đến nhà T uống nước được một lúc thì những người trên cùng rủ nhau đánh bạc trên tầng hai của nhà T và thống nhất nếu ai thắng sẽ dùng số tiền thắng bạc để mua bia và nước ngọt về uống. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật N, Trần Văn N2, Nguyễn Văn C đã sử dụng 02 (hai) bộ bài Túlơkhơ có sẵn tại nhà T để đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Phỏm”. Tỷ lệ thắng thua quy định là: Người về thứ hai mất số tiền 10.000 đồng, người về thứ ba mất số tiền 20.000 đồng, người về thứ tư mất số tiền 30.000 đồng, người có bài bị “cháy” mất 40.000 đồng, người thắng là người về thứ nhất và được nhận toàn bộ số tiền trên. Nếu có người “ù” thì mỗi người còn lại mất 50.000 đồng.
Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Công an xã N, huyện N phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 710.000 đồng (Bảy trăm mười nghìn đồng), 02 (hai) bộ bài Túlơkhơ màu đỏ, mỗi bộ có 52 quân bài, sau đó chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 710.000 đồng (Bảy trăm mười nghìn đồng), trong đó số tiền dùng đánh bạc của từng người là: Nguyễn Văn T: 300.000 đồng, Nguyễn Nhật N: 100.000 đồng, Trần Văn N2: 40.000 đồng, Nguyễn Văn C: 270.000 đồng. Tuy tổng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng do Nguyễn Văn T và Nguyễn Nhật N trước đó đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm, nên đã phạm tội "Đánh bạc". Đối với Trần Văn N2, Nguyễn Văn C, kết quả tra cứu lý lịch tư pháp chưa có tiền án, tiền sự về tội, hành vi đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Tại bản kết luận giám định số 68/KL-KTS(Đ3-TL) ngày 13/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: "Số tiền 710.000 đồng (Bảy trăm mười nghìn đồng) (Có bảng kê chi tiết mệnh giá, mã số ký hiệu kèm theo) gồm: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), 02 (hai) tờ T3 mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), 05 (năm) tờ T3 mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng), 01(một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật".
Vật chứng thu giữ:
-
Số tiền 710.000 đồng (Bảy trăm mười nghìn đồng) được gửi vào tài khoản tạm gửi của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N mở tại Kho bạc Nhà nước huyện N chờ xử lý.
-
02 (hai) bộ bài Túlơkhơ màu đỏ, mỗi bộ có 52 quân bài được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện N chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS-NL ngày 06/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự; xử phạt các bị cáo từ 22 đến 25 triệu đồng. Hình phạt bổ sung: không.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 710.000 đồng (ba mươi bảy triệu, bốn trăm tám mươi nghìn đồng) được niêm phong gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện N, tỉnh Nghệ An. Tịch thu tiêu hủy 02 (một) bộ bài Túlơkhơ, mỗi bộ có 52 quân bài.
Về án phí: bị cáo Nguyễn Nhật N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Văn T được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm do thuộc đối tượng người cao tuổi.
Các bị cáo nhận tội, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận:
Từ khoảng 09 giờ 45 phút đến 10 giờ 10 phút ngày 27/02/2024, tại nhà ở của Nguyễn Văn T ở xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật N, Trần Văn N2, Nguyễn Văn C đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài "Phỏm", được thua bằng tiền thì bị Công an xã N, huyện N phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ tại chiếu bạc 02 (hai) bộ bài Túlơkhơ màu đỏ, mỗi bộ có 52 quân bài và số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 710.000 đồng (Bảy trăm mười nghìn đồng). Tuy số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng do Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật N trước đó đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm, nên đã phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng quy định pháp luật.
-
Về tính chất vụ án; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự trị an công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo chịu mức trách nhiệm hình sự, để có tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là người dùng nơi ở của mình làm địa điểm đánh bạc; dùng số tiền đánh bạc nhiều nhất (300.000 đồng); bị cáo N dùng số tiền đánh bạc ít nhất nhưng bị cáo có 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép. Do đó, 2 bị cáo chịu mức trách nhiệm hình sự tương đương nhau.
Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội; gia đình bị cáo có công với cách mạng - Là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét áp dụng tương ứng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét các bị cáo có nơi cư trú ổn định; lần đầu phạm tội và số tiền dùng vào việc đánh bạc ít. Do vậy, xử phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm.
-
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo lao động tự do; đã bị đề nghị áp dụng mức hình phạt tiền nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
-
Về vật chứng:
-
Đối với số tiền 710.000 đồng là tiền liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
-
Đối với 02 (một) bộ bài Túlơkhơ, mỗi bộ có 52 quân bài là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
-
-
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Văn T trên 60 tuổi nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử;
Xử phạt Nguyễn Văn T 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng)
Xử phạt Nguyễn Nhật N 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng)
-
Về vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 710.000 đồng. (Hiện đang được gửi giữ tại Kho bạc nhà nước huyện N theo Biên bản giao nhận tài sản số 05/2024/BBBG-CANL ngày 26/3/2024).
Tịch thu tiêu hủy 02 (Một) bộ bài Túlơkhơ, có 52 quân bài, đã qua sử dụng, đã cũ. (Hiện bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2024).
-
Án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Nguyễn Nhật N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T.
-
Các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (về tội đánh bạc)
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Về tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
