Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦ THỪA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 29-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nhị;

Ông Võ Đức Huy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T, (tên gọi khác: Không); Giới tính: N; Sinh năm: 1953; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp 1+3, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Cha: Phạm Văn K (đã chết); Mẹ: Lê Thị G (đã chết); Vợ: Hồ Thị N1, sinh năm 1958; Có 05 người con: con lớn sinh năm 1976, con nhỏ sinh năm 1983.

Tiền sự: không.

Tiền án: Ngày 04/11/2019, bị TAND huyện Thủ Thừa xử phạt 25.000.000 đồng về tội đánh bạc, chấp hành án vào ngày 06/02/2024.

Bị cáo tại ngoại điều tra, (có mặt).

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Võ Đức T1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An;
  2. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An;
  3. Ông Lê Thành T2, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An;
  4. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

(Tất cả đều có đơn xin vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 21/01/2024, tại quán nước của bà Nguyễn Thị L có Phạm Văn T là người có tiền án về tội Đánh bạc. Tại đây, T gặp ông Võ Đức T1, Lê Văn Đ và Lê Thành T2 đang uống nước thì cả nhóm rủ nhau chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền, cả nhóm đồng ý. Các đối tượng thống nhất hình thức đánh bài binh xập xám 13 lá, tiền cược mỗi ván là 10.000 đồng và thay phiên mỗi người chia bài một ván. Cả nhóm sử dụng một cái bàn, 04 cái ghế và một bộ bài Tây 52 lá có sẵn trên bàn để chơi. T sử dụng 280.000 đồng làm vốn đánh bạc, T1 sử dụng 320.000 đồng làm vốn đánh bạc, T2 sử dụng 280.000 đồng làm vốn đánh bạc, Đ sử dụng 40.000 đồng làm vốn đánh bạc. Cả nhóm chơi đánh bài được khoảng 09 đến 10 ván, có thắng có thua. Đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, các đối tượng đang đánh bạc thì bị lực lượng tuần tra Công an xã N kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang và mời các đối tượng về làm việc. Tại Cơ quan Công an Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tại Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Phạm Văn T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Đánh bạc”. Đại diện Viện kiểm sát phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; Điều 50; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây loại 52 lá đã qua sử dụng

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 920.000đ tiền trên chiếu bạc được các con bạc sử dụng đánh bạc.

Bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin hứa sẽ không tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại CQĐT, biên bản thu giữ vật chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Vào lúc 10 giờ ngày 21/01/2024, tại quán nước của bà Nguyễn Thị L ở Ấp E, xã N, huyện T, Phạm Văn T là đối tượng có tiền án về tội Đánh bạc đã cùng với Võ Đức T1, Lê Văn Đ và Lê Thành T2 chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền trái phép, hình thức đánh bài binh xập xám13 lá, tiền cược mỗi ván là 10.000 đồng. Các đối tượng đã sử dụng tổng số tiền 920.000đồng để chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền trái phép. Do đó hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

[2] Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn làm ảnh hưởng đến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng và chống tệ nạn cờ bạc trong xã hội. Do đó đối với bị cáo cần phải có một hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ như: đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; khi phạm tội bị cáo đã trên 70 tuổi; số tiền tham gia đánh bạc không lớn (chỉ 280.000 đồng); vợ của bị cáo đang bệnh ung thư Gan. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, là người có nhân thân tốt (do tiền án của bị cáo đã dùng để định tội), bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối Cao nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật là tạo điều kiện cho bị cáo ở nhà chăm sóc vợ đang bị bệnh ung thư Gan.

Đề nghị của bà Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Đối với Võ Đức T1, Lê Thành T2 và Lê Văn Đ đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền trái phép. Tuy nhiên số tiền các con bạc sử dụng để đánh bạc dưới 05 triệu đồng, bản thân các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc” nên không đủ cơ sở xử lý hình sự, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển hồ sơ đến Công an xã N để xử lý hành chính theo quy định. Hiện tại Công an xã N đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Võ Đức T1, Lê Thành T2 và Lê Văn Đ mỗi người 1.500.000đ.

[5] Đối với bà Nguyễn Thị L là chủ quán nước nơi bị cáo T và các đối tượng T1, Đ, T2 thực hiện hành vi đánh bạc. Quá trình điều tra xác định bà L không tham gia đánh bạc, không bàn bạc và không biết việc các đối tượng đánh bạc, không thu tiền xâu. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện T không có cơ sở xử lý hình sự đối với bà L.

[6] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có thu giữ vật chứng gồm: Tiền Việt Nam 920.000đ; 01 bộ bày Tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 cái bàn gỗ cùng 04 ghế nhựa; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 51V2 – 1619. Xét thấy:

  • [6.1] Đối với Tiền Việt Nam: 920.000đ là số tiền thu trên chiếu bạc do các con bạc dùng để đánh bạc nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
  • [6.2] Đối với 01 bộ bày Tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  • [6.3] Đối với 01 cái bàn gỗ cùng 04 ghế nhựa là tài sản của bà Nguyễn Thị L. Quá trình điều tra xác định bà Nguyễn Thị L không tham gia đánh bạc, không thu tiền xâu, không bàn bạc và không biết việc các đối tượng đánh bạc nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trao trả lại tài sản trên cho bà L.
  • [6.4] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 51V2 – 1619 của bị cáo Phạm Văn T, qua xem xét không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trao trả lại cho bị cáo T.

[7] Về án phí: bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí HSST theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; Điều 50; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2024).

Giao bị cáo Phạm Văn T về Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phạm Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước Tiền Việt Nam: 920.000đ thu trên chiếu bạc, trong đó: T là 280.000đ; Đ là 40.000đ; T1 là 320.000đ; T2 là 280.000đ. Hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện T đang tạm gửi Kho bạc Nhà nước theo giấy nộp tiền ngày 20/6/2024, nộp vào tài khoản số 3949.0.9005288.00000.

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bày Tây 52 lá đã qua sử dụng

(Vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ-VKS ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội miễn án phí HSST cho bị cáo Phạm Văn T.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29-8-2024). Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - Công an huyện Thủ Thừa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tuấn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Tòng "đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger