|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2024 “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Viết Thanh
Ông Trần Văn Hải
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Phan Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 6 năm 2024, về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 232/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trần Thị Tuyết T, sinh năm 1996 (có mặt).
Địa chỉ: Số 27, đường Đ, phường M, thành phố C, tỉnh Đ.
Bị đơn: : Đoàn Quang V, sinh năm 1988 (vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Tổ 4, Ấp 4, xã M, thành phố C, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn Trần Thị Tuyết T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh V kết hôn với nhau vào năm 2023, có đăng ký kết hôn ngày 15/6/2023 tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố C, tỉnh Đ.
Cuộc hôn nhân ban đầu hạnh phúc, có một con chung. Đến cuối năm 2023 thì chị T và anh V phát sinh mâu thuẫn cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh V không phụ giúp chị T trong việc chăm sóc con cái, sống vô tâm, không quan tâm chăm sóc gia đình, chị T đã góp ý nhiều lần nhưng anh V không thay đổi nên mục đích xây dựng gia đình không đạt được.
Hiện nay, mâu thuẫn gia đình không cải thiện được gì mà ngày càng trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh V.
Về con chung: Chị T và anh V có 01 con chung tên Đoàn Trần Đ, sinh ngày 04/8/2023. Hiện nay, con chung đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Đoàn Quang V: Không gửi (nộp) văn bản ý kiến cho Tòa án và không có mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như không có mặt tại các phiên tòa xét xử của Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn và nuôi con. Anh V đang sinh sống tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V nhưng anh V không có mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời không có mặt tại các phiên tòa xét xử của Tòa án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân của chị T và anh V được xác lập vào năm 2023, do chị T tự nguyện và thừa nhận, có đăng ký kết hôn ngày 15/6/2023 tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố C, tỉnh Đ nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Tại phiên tòa, chị T cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh V. Anh V không có mặt tại phiên tòa và không có ý kiến về quan hệ hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án thông báo cho anh V, yêu cầu anh V trình bày về quan hệ hôn nhân nhưng anh V vẫn không có ý kiến.
Xét thấy, chị T và anh V có nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, chị T được ly hôn với anh V, theo Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Xét con chung: Chị T và anh V có 01 con chung tên Đoàn Trần Đ, sinh ngày 04/8/2023. Hiện nay con chung đang sống chung với chị T, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án thông báo cho anh V, yêu cầu anh V trình bày về con chung nhưng anh V vẫn không có ý kiến. Con chung tên Đoàn Trần Đ, sinh ngày 04/8/2023, đến nay con chung dưới 36 tháng tuổi, đã và đang sống chung, gần gũi với chị T ổn định thời gian dài và phát triển tốt về mọi mặt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T. Tiếp tục giao con chung tên Đoàn Trần Đ, sinh ngày 04/8/2023 cho chị T trực tiếp nuôi, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung; Anh V không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[5] Xét tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung; Anh V cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Án phí: Chị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh V không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Tuyết T, chị Trần Thị Tuyết T được ly hôn với anh Đoàn Quang V.
Con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Tuyết T. Tiếp tục giao con chung tên Đoàn Trần Đ, sinh ngày 04/8/2023 cho chị T trực tiếp nuôi, hiện con chung đang sống chung với chị T.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Chị Trần Thị Tuyết T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009860 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp. Như vậy, chị Trần Thị Tuyết T đã nộp đủ tiền án phí.
Anh Đoàn Quang V không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn.
Chị Trần Thị Tuyết T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đoàn Quang V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Liên |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh V
