|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày 29 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Diên Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Huế và bà Trần Thị Hương.
Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Bà Lô Thị Giang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, điểm cầu tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo: Lương Văn D; tên gọi khác: Không; sinh năm 1970, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ (học vấn): Không học; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn N (đã chết) và bà: Lương Thị N1 (đã chết); Vợ: Hà Thị Đ; Con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án: Không, Tiền sự: Ngày 08/10/2021, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cái nghiện ma túy bắt buộc theo Quyết định số: 83/QĐ-TA ngày 08/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; Thời hạn chấp hành quyết định là 18 tháng. Đến ngày 08/4/2023 chấp hành xong và trở về địa phương.
Nhân thân: Ngày 24/7/2007, Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 51/2007/HSST. Năm 2009 chấp hành xong bản án và trở về địa phương trình báo chính quyền xã ngày 29/7/2009. bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024 đến nay, có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1974;
Trú tại: xóm P, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ, ngày 27 tháng 3 năm 2024, Lương Văn D - Trú tại bản N, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An đi bộ đến khu vực N thuộc bản T, xã M mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến khu vực ven rừng Lương Văn D gặp một người đàn ông không quen biết D hỏi: "Có ma túy bán không?", người đó trả là "Có", D nói: "Bán cho tôi 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn) đồng" nói xong D đưa tiền cho người này. Nhận tiền với D người đàn ông lấy cho D một gói ni lông màu trắng bên trong chứa ma túy. Mua được ma túy Lương Văn D cầm trên tay rồi quay về, khi về đến nhà Lương Văn D đi vào nhà tắm lấy gói ma túy ra để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã M phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay của Lương Văn D 01 gói ma túy (nghi Heroine) được bọc bằng mảnh bao ni lông màu trắng.
Kết luận giám định số 366/KL- KTHS (Đ2-MT) ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“- Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn D gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn D có khối lượng là 1,49g (Một phẩy bốn mươi chín) gam.
Về vật chứng của vụ án thu giữ: 1,49g (Một phẩy bốn mươi chín) gam Heroine, Cơ quan điều tra đã lấy 0,2g (Không phẩy hai) gam gửi đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Còn lại 1,29g (Một phẩy hai mươi chín) gam Heroine và mảnh bao ni lông màu trắng, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư Công an huyện, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Phong.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKS-QP ngày 08/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn D Về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Q vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Lương Văn D như nội dung bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, đối với người đàn ông có hành vi bán trái phép ma túy cho Lương Văn D (theo lời khai của D) do không xác định được lai lịch cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 1,29g (Một phẩy hai mươi chín) gam Heroine và mảnh bao ni lông màu trắng, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lương Văn D.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và thừa nhận hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo cùng những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Lương Văn D đã thừa nhận hành vi của mình; qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người chứng kiến, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định về ma túy, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 18 giờ 50 phút, ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại Bản N, xã M, huyện Q, Lương Văn D đang có hành vi cất giữ trái phép 1,49g (Một phẩy bốn mười chín) gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã M phát hiện bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Văn D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần phải được xử lý nghiêm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy mà vẫn thực hiện tội phạm. Vì vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự nhưng bị cáo có tiền sự vào ngày 08/10/2021, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cái nghiện ma túy bắt buộc theo Quyết định số: 83/QĐ-TA ngày 08/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong. Thời hạn chấp hành quyết định là 18 tháng. Đến ngày 08/4/2023 chấp hành xong và trở về địa phương. Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân xấu vào ngày 24/7/2007, Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 2 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 51/2007/HSST. Năm 2009 chấp hành xong bản án và trở về địa phương trình báo chính quyền xã ngày 29/7/2009.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo là chưa phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. 1,29g (Một phẩy hai mươi chín) gam Heroine và mảnh bao ni lông màu trắng, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lương Văn D cần tịch thu tiêu huỷ.
[7]. Về án phí: Bị cáo Lương Văn D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lương Văn D 30 (Ba mươi) tháng tù, Về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 27 tháng 3 năm 2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 1,29g (Một phẩy hai mươi chín) gam Heroine và mảnh bao ni lông màu trắng, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lương Văn D.
Đặc điểm vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An ngày 10 tháng 7 năm 2024.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lương Văn D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Diên Tuấn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hồ Diên Tuấn
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
