|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày: 29/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Đặng Thị Thu Hương
-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Là– Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/HSST- QĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quang Đ; Sinh năm: 1992; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số A đường B, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định.Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông Trần Văn S, sinh năm: 1969; Con bà: Trần Thị N, sinh năm: 1972.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 124/2013/HSST ngày 25/4/2013 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Trần Quang Đ 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã được xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 07/6/2024 chuyển tạm giam, đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ, ngày 03 tháng 6 năm 2024, bị cáo đi xe buýt từ nhà xuống khu vực ngã 4, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông, bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ 01 túi ma tuý “đá” với giá 500.000 đồng để sử dụng, rồi bắt xe buýt về. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi xe buýt đến khu vực đường T thuộc địa phận thôn Q, xã N, huyện N, bị cáo xuống xe, đang đi bộ thì bị tổ công tác Công an huyện N bắt quả tang. Thu giữ ở lòng bàn tay phải của bị cáo có 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, bị cáo khai nhận đó là ma tuý “đá” mua về để sử dụng. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, niêm phong vật chứng (ký hiệu M) và đưa bị cáo về trụ sở Công an xã N, huyện N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở bị cáo, không thu giữ đồ vật, tài liệu
Tại bản kết luận giám định số 1042/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M: 0,661 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội
Bản cáo trạng số: 48/CT-VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Quang Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Quang Đ từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong phong bì thư của Phòng K1 Công an tỉnh N.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03/6/2024; biên bản khám xét ngày 03/6/2024; bản kết luận giám định số 1042/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N, biên bản ghi lời khai người chứng kiến anh Phạm Văn K, Trần Văn Đ1... Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ, ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại đường tỉnh lộ 490C thuộc địa phận thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,661 gam Methamphetamine trong lòng bàn tay phải để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, vì vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy là vật mà Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
[7] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[8]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
sự:
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
- - Tuyên bố bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt Trần Quang Đ 30(Ba mươi) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 03/6/2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong phong bì thư số 1042/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh N có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Trần Quang Đ phải nộp 200.000(Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quang Đ- Tàng trữ trái phép chất ma túy
