TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2024 V/v “Tranh chấp ly hôn - Không công nhận quan hệ vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiến
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Văn Mến
2/ Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Nhu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn - Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1994 (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Số 26/2 khu vực 3, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Bùi Thanh L, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 253 khu vực Phú Quới, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/01/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:
Vào năm 2018 bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Bùi Thanh L gặp nhau và phát sinh tình cảm cho nên bà và ông L đã chung sống như vợ chồng nhưng không có kết hôn.
Bà và ông L sống hạnh phúc được hơn 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Bà và ông L đã ly thân hơn 02 năm nay. Vì vậy, bà D làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ giải quyết cho bà vấn đề sau:
- + Về quan hệ hôn nhân: Cho bà được ly hôn với ông Bùi Thanh L (Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Bùi Thanh L).
- + Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Thanh P(nam); sinh ngày 06/01/2020. Hiện tại cháu P đang sống với bà D, sau khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi con đến khi đủ 18 tuổi. Bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung: Không có.
- + Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn ông Bùi Thanh L: Được Tòa án triệu hợp lệ 02 lần nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Vụ án không hòa giải được. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn tiếp tục vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu quan điểm:
Về tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt các lần hòa giải và xét xử, Tòa án đã tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy mâu thuẫn giữa bà D và ông L đã thật sự nghiêm trọng, đời sống hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Bùi Thanh L chung sống như vợ chồng vào năm 2018 nhưng không có đăng ký kết hôn, việc bà D và ông L chung sống là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống, bà D và ông L phát sinh mâu thuẫn, bà D có đơn khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông L nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn – ông Bùi Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án (vắng mặt nguyên đơn và bị đơn) theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà D, Hội đồng xét xử thấy rằng, bà và ông L tuy tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn nhưng hôn nhân của bà và ông L được xác lập năm 2018 và cho đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó cần căn cứ quy định tại khoản 4 điều 3 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 để không công nhận quan hệ vợ chồng của ông, bà. Xét thấy, giữa bà và ông L có thời gian chung sống hạnh phúc được gần 03 năm. Tuy nhiên, đến năm 2020 mâu thuẫn phát sinh, vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, cả hai đã ly thân từ đó đến nay đã hơn 03 năm.
Mặt khác, ông L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà D và ông L đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa, do vậy bà D yêu cầu không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa bà với ông L là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật nghĩ nên chấp nhận yêu cầu này của bà D, không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa bà với ông L...
[4] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thanh P(nam); sinh ngày 06/01/2020. Hiện tại cháu P đang sống với bà D, sau khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi con đến khi đủ 18 tuổi. Nhằm tạo điều kiện về mặt vật chất và tinh thần cho cháu P tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Vì vậy, việc giao cháu P cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp quy định pháp luật và cũng đảm bảo cuộc sống cho cháu Phúc. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông L theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác
[6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
[7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- + Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
- + Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 9, Điều 14, Khoản 1 Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D về không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Bùi Thanh L.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Bùi Thanh L.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thanh P(nam); sinh ngày 06/01/2020. Giao cháu P cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Ghi nhận bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp, theo biên lai thu số 0003300 ngày 12/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận C, thành phố Cần Thơ thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm phải chịu. Bà D đã nộp xong án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông L theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Trung Hiến |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn - không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn - Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mỹ D và Bùi Thanh L "Tranh chấp ly hôn"
