Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 12 - 2023

V/v: “Ly hôn”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Thái Quang Định.
    2. Bà Vũ Thị Xuyến.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Lã Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Đoàn Thị T, sinh năm 1976.
  • Địa chỉ: tổ 2, khu A, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1971.
  • Địa chỉ: tổ 2, khu A, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 06 tháng 02 năm 2023, bản tự khai ngày 26 tháng 7 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đoàn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị T và anh Nguyễn Văn D kết hôn ngày 10 tháng 01 năm 1994, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, thị xã U (nay là phường P, thành phố U), tỉnh Quảng Ninh, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng về quan điểm sống, từ nguyên nhân này mà cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau khiến gia đình căng thẳng. Mâu thuẫn đã được gia đình nội, ngoại khuyên can, hòa giải nhưng vợ chồng không khắc phục được. Chị T và anh D đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể duy trì quan hệ hôn nhân với anh D nữa nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: chị Đoàn Thị T và anh Nguyễn Văn D có 02 con chung là Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 25/10/1994 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 11/9/1998. Cả hai con chung đã thành niên và phát triển bình thường nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí đã tống đạt hợp lệ văn bản Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập và Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập, văn bản tố tụng khác cho bị đơn anh Nguyễn Văn D. Tuy nhiên anh D đều vắng mặt không có lý do, đồng thời trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh D không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại biên bản xác minh ngày 09 tháng 11 năm 2023, đại diện chính quyền khu A, phường P, thành phố Uông Bí cung cấp thông tin không nắm được mâu thuẫn vợ chồng của Chị T và anh D vì hai người không đề nghị khu hòa giải. Chính quyền khu chỉ biết hiện nay Chị T và anh D không còn sống chung với nhau nữa.

Tại biên bản xác minh ngày 09 tháng 11 năm 2023, chị Nguyễn Thu N là con dâu của Chị T và anh D cung cấp thông tin bố mẹ có mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống hôn nhân, chị Ngân đã động viên bố mẹ về với nhau nhưng mẹ chị vẫn kiên quyết xin ly hôn, quan điểm của chị N là việc xin ly hôn của bố chị với mẹ chị là việc riêng, chị N không có ý kiến gì.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn đã được tiếp cận và không có ý kiến gì, còn bị đơn anh Nguyễn Văn D vắng mặt.

Tại đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn chị Đoàn Thị T giữ nguyên quan điểm như trên. Anh Nguyễn Văn D được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan hệ hôn nhân giữa Chị T và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T kiên quyết xin ly hôn với anh D. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Chị T và anh D có 02 con chung là Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 25/10/1994 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 11/9/1998. Cả hai con chung đều đã thành niên và phát triển bình thường nên không đề cập giải quyết. Về án phí ly hôn sơ thẩm, chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị Đoàn Thị T và anh Nguyễn Văn D đều có địa chỉ tại thành phố Uông Bí và nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Đoàn Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung cần giải quyết của vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đoàn Thị T và anh Nguyễn Văn D có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của đương sự và biên bản xác minh của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác, Hội đồng xét xử nhận định nguyên nhân mâu thuẫn giữa Chị T và anh D là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, từ những nguyên nhân này là cuộc sống vợ chồng cãi vã nhau khiến gia đình căng thẳng, nặng nề, mâu thuẫn đỉnh điểm dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh D đều vắng mặt và cũng không có giải pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng Chị T và anh D đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh D là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

Các đương sự có 02 con chung là Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 25/10/1994 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 11/9/1998. Cả hai con chung đã thành niên và phát triển bình thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung:

Chị Đoàn Thị T không đề nghị Toà án giải quyết, anh Nguyễn Văn D không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án ly hôn sơ thẩm:

Nguyên đơn chị Đoàn Thị T phải nộp theo quy định.

[3] Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Đoàn Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đoàn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (chị T được trừ án phí bằng tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007063 ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
  3. Về quyền kháng cáo:

    Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn chị Đoàn Thị T và bị đơn anh Nguyễn Văn D, báo cho họ biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Phương Nam, TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (nơi ĐKKH);
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn

  • Số bản án: 47/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ T- D năm 2023
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger