|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:47/2023/HS-ST Ngày: 27 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Đức Hoàn
2. Ông Bùi Trung Thành
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị L - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:45/2023/QĐXXST- HS ngày13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Mai Văn L1 - Sinh ngày 03/5/1988 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 9/12; Con ông: Mai Văn P (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Y (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, chưa có con;
Tiền án: Ngày 15/6/2021 bị Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 08 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 28/2021/HSST. Ngày 22/02/2023 bị Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 08 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 09/2023/HSST. Ngày 30/7/2023 chấp hành xong án phạt tù chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
Tiền sự: Ngày 27/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định số 13/QĐ-TA;
Nhân thân: Ngày 23/7/2013 bị Công an huyện N xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác”. Ngày 28/4/2020 bị Công an huyện N xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 21/5/2020 bị Công an huyện N xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 19/3/2021 bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thu V – Trợ giúp viên pháp lý (Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 – Trung tâm trợ giúp pháp lý, Thanh Hóa)
Địa chỉ: Phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. - Có mặt
- Người làm chứng.
1. Bà Bùi Thị N1 - Sinh năm 1969 (Vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Trung T - Sinh năm 1962 (Vắng mặt)
Đều cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 21 giờ 16 phút, ngày 10/10/2023 Công an xã M, huyện N thực hiện nhiệm vụ tuần tra tại đoạn đường thuộc thôn T, xã M, huyện N phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Văn L1, trú tại thôn T, xã M, huyện N có hành vi cất giấu trong người chất ma tuý, thu giữ 01 gói ni lon, bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ. Mai Văn L1 khai nhận, khoảng ngày 04, 05/10/2023 L1 đi xe khách đến khu vực ngã tư đường H thuộc xã T, huyện T mua với một người đàn ông lạ mặt làm nghề xe ôm được 05 viên hồng phiến, với số tiền 500.000 đồng, sau đó đem về sử dụng 03 viên, còn 02 viên Long gói bằng túi ni lon cất giấu, đến tối ngày 10/10/2023 L1 đem gói ma túy bỏ trong túi quần đi tìm nơi sử dụng, khi đến đoạn đường thuộc thôn T, xã M, huyện N thì bị Công an xã M, huyện N kiểm tra, phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng đưa về trụ sở xã để xử lý.
Tại bản kết luận giám định số 3727/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 02 viên nén hình tròn màu đỏ của phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,192 gam loại: Methamphetamine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Một phong bì mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Hoàng Đức L2 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.
Bản cáo trạng số 44/CT-VKS - NL ngày 24/11/2023 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Mai Văn L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- - Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Mai Văn L1 từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 11/10/2023.
- - Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy Một phong bì mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Hoàng Đức L2 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
- - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm của bà Lê Thị Thu V, trợ giúp viên pháp lý, người bào chữa cho bị cáo như sau:
Thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như điều luật áp dụng, mức hình phạt của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, để lên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình đã gây ra, bị cáo đã có tiền án, tiền sự và nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Về các nội dung khác của vụ án người bào chữa cho bị cáo hoàn toàn thống nhất và không có ý kiến gì. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét.
Bị cáo thống nhất với bản luận tội, thống nhất với lời bào chữa không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thể hiện rõ: Hồi 21 giờ 16 phút, ngày 10/10/2023 Công an xã M, huyện N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Văn L1 có hành vi cất giấu trong người 02 viên ma túy, mục đích để sử dụng, kết quả giám định có tổng khối lượng 0,192 gam, loại Methamphetamine, tại đoạn đường thuộc thôn T, xã M, huyện N, cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội có tình một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là. Ngày 22/02/2023 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 08 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 09/2023/HSST. Ngày 30/7/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định của pháp luật. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo là người có nhân thân xấu đó là: Ngày 23/7/2013 bị Công an huyện N xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác”. Ngày 28/4/2020 bị Công an huyện N xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 21/5/2020 bị Công an huyện N xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 19/3/2021 bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”
Với các tình tiết và nhân thân nêu trên chứng tỏ bị cáo là người không có ý thức cải tạo thành người công dân tốt, tỏ thái độ coi thường pháp luật. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
Một phong bì mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Hoàng Đức L2 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, là mẫu vật còn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
[7] Về án phí: Bị cáo Mai Văn L1 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Mai Văn L1.
Tuyên bố: Mai Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: M (Mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2023.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu, tiêu hủy. Một phong bì mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Hoàng Đức L2 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho số NK 2024/011 ngày 24/11/2023.
Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Mai Văn L1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Bùi Trung Thành | Phạm Đức Hoàn | Phạm Xuân Thành |
Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 47/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án đánh bạc tội Tàng trữ trái phép chất ma túy , bị cáo Mai Văn L bị xử phạt 18 tháng tù
