Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HOÁ

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 11 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Thị Hương
  2. Ông Hoàng Trọng Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Thanh T, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1988, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tiểu khu B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng BìnhNghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Đức N năm 1957 và bà Hoàng Thị L năm 1958; Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 04/8/2022, phạm tội trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 360/2022/HSST ngày 19/8/2024. Ngày 04/8/2023 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 29/01/2006 có hành vi chống người thi hành công vụ bị Công an huyện T hành vi hành chính với số tiền 825.000đồng; Ngày 21/01/2008 trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa huyện Tuyên Hóa xử phạt 06 tháng tù; Ngày 01/8/2012 trộm cắp tài sản bị UBND tỉnh Q quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng; Ngày 16/8/2015, tàng trữ trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  • Anh Nguyễn Vũ L1
  • Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bìnhmặt).

  • Anh Phan T1 L2
  • Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bìnhmặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

  • Ông Đoàn Văn H
  • Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bìnhmặt).

  • Ông Hồ Đức N1
  • Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bìnhmặt). Bà Hoàng Thị LHồ DN

  • Bà Nguyễn Thị N2
  • Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bìnhmặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ, ngày 16/8/2024, Hồ Thanh T2 khiển xe mô tô không có biển kiểm soát, đi từ nhà đến quán C, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình chơi. Khi đến quán, T3 có 07 thùng bia Huda để trên kệ sắt, trong quán không có người trông coi, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tlấy 03 thùng bia H1đặt lên xe mô tô rồi chạy đến quán tạp hóa “Hựu Ngân” và bán 03 thùng bia nói trên cho anh Đoàn Văn H1 tại thôn T, xã S quán T18, với giá 640.000 đồng. Đến ngày 18/8/2024, hành vi trộm cắp tài sản của Hồ Thanh T4 Công an thị trấn Đphát hiện, T5 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra, Hồ Thanh T5 khai nhận thêm hành vi phạm tội, cụ thể: Vào khoảng 06 giờ 15 phút, ngày 14/8/2024, Hồ Thanh T6 bộ qua nhà anh Phan Thành L2, trú tại tiểu khu A, thị trấn Đ, huyện T xin xăng về đổ xe mô tô. Khi vào trong nhà, thấy anh L3 nằm ngủ trên giường, T7 hiện có 01 điện thoại di động đang sạc pin đặt ở phía chân giường nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tđi tới lấy trộm chiếc điện thoại rồi đi ra ngoài. Sau khi lấy trộm được tài sản, T8 xe khách Trí Hậu đi vào Đ. Khi đang trên xe, Tgặp chị Nguyễn Thị N3 năm: 1977, trú tại thôn T, xã M, huyện T chiếc điện thoại cho chị N1với giá 600.000 đồng, số tiền bán được Ttiêu xài cá nhân hết.

- Tại bản Kết luận định giá số: 26/KL-HĐĐG ngày 20/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T: 03 thùng bia Huda có giá trị: 825.000 đồng.

- Tại bản Kết luận định giá số: 27/KL-HĐĐG ngày 06/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: Xiaomi, loại: R12, màu: Xám, số IMEI 1: 867510063730246, số IMEI 2: 867510063730253, tình trạng đã qua sử dụng, có giá là: 2.500.000 đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tạm giữ: - 03 thùng bia Huda; kích thước: (40x27x12) cm, có nhiều hoa văn, họa tiết, màu trắng, màu xanh có dòng chữ “Huda” màu đen, quy cách đóng thùng gồm 24 lon bia. Tình trạng còn nguyên vẹn, dán kín thùng.

- 01 xe mô tô, có tem nhãn chữ “Honda, Dream II” trên thân xe; màu sơn: Trắng – Nâu; Số khung: 010089; Số máy: LC150FMG00000270, xe đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: Xiaomi, loại: R12, màu: Xám, số IMEI 1: 867510063730246, số IMEI 2: 867510063730253, tình trạng đã qua sử dụng.

Xử lý vật chứng:

Ngày 25/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T19 đã trả lại 03 thùng bia cho anh Nguyễn Vũ L1; trả lại 01 (một) điện thoại di động cho anh Phan T1 L2là chủ sở hữu hợp pháp.

* Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại N11 L2đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh L1và anh L2không yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn H yêu cầu bồi hoàn lại số tiền 640.000 đồng; bà Nguyễn Thị N4 cầu bồi hoàn số tiền 600.000 đồng. Hồ Thanh T9 thực hiện việc bồi hoàn số tiền trên.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT – VKSTH - HS ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Hồ Thanh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày bản luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Hồ Thanh T10 15 đến 18 tháng tù, thời gian được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/8/2024.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Đức N5 chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe mô tô, có tem nhãn chữ “Honda, Dream II” trên thân xe; màu sơn: Trắng - Nâu; Số khung: 010089; Số máy: LC150FMG00000270, xe đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Hồ Thanh T phải bồi hoàn cho ông Đoàn Văn H số tiền 640.000 đồng; chị Nguyễn Thị N6 tiền 600.000 đồng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố Tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và nhưng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Hồ Thanh T11 người có nhận thức, có sức khỏe nhưng lười lao động, thích ăn chơi và hưởng thụ từ tài sản sẵn có của người khác nên đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý và bảo vệ tài sản của bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản: Ngày 16/8/2024, Hồ Thanh T5 đột nhập vào quán C1 của anh Nguyễn Vũ L4 thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bìnhtrộm cắp 03 thùng bia nhãn hiệu Huda. Giá trị tài sản mà T14 đoạt được xác định là 825.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo còn khai nhận trước đó 02 ngày, vào ngày 14/8/2024, Hồ Thanh T5 trộm cắp tài sản của anh Phan T1 L201 điện thoại di động, nhãn hiệu: Xiaomi, loại: Redmi N, trị giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá trị tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 3.325.000đ (ba triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo là cố ý trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hồ Thanh T5 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ tài liệu về thời gian, địa điểm, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trong một khoảng thời gian ngắn, vì vậy thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 29/01/2006 bị cáo có hành vi chống người thi hành công vụ bị Công an huyện T hành vi hành chính với số tiền 825.0000 đ (tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng); Ngày 21/01/2008 trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa huyện Tuyên Hóa xử phạt 06 tháng tù; Ngày 01/8/2012, trộm cắp tài sản bị UBND tỉnh Q quyết định đưa vào cơ sở giáo

dục bắt buộc 24 tháng; Ngày 16/8/2015, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng. Trước khi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích, ngày 04/8/2022 bị cáo phạm tội “ trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 360/2022/HS-ST ngày 30/11/2022. Ngày 04/8/2023 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự thú, tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào vai trò tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có tiền án, nhân thân xấu, sau khi chấp hành xong hình phạt, không chịu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức mà còn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Điều đó thể hiện bị cáo là người khó cải tạo, giáo dục, xem thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà nhằm để cảm hóa lỗi lầm của bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích nêu trên.

[6] Về vật chứng:

Ngày 25/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T19 đã trả lại 03 thùng bia cho anh Nguyễn Vũ L1; trả lại điện thoại di động cho anh Phan T1 L2là chủ sở hữu hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.

Đối với 01 xe mô tô, có tem nhãn chữ “Honda, Dream II” trên thân xe; màu sơn: Trắng – Nâu; Số khung: 010089; Số máy: LC150FMG00000270, xe đã qua sử dụng. Đây là xe của ông Hồ Đức N7 bị cáo Hồ Thanh T12 dụng đi trộm cắp sản ông N8 biết. Nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 trả lại cho ông Hồ Đức N1

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Vũ L5 anh Phan T1 L2đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, Tại phiên tòa anh L1và anh L2 vắng mặt, quá trình điều tra không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quá trình điều tra người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn H yêu cầu bị cáo bồi hoàn lại số tiền 640.000 đồng; bà Nguyễn Thị N4 cầu bị cáo bồi hoàn số tiền 600.000 đồng. Hồ Thanh T9 thực hiện việc bồi hoàn số tiền trên. Do đó cần áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Hồ Thanh T13 có nghĩa vụ bồi hoàn cho ông Đoàn Văn H2 Nguyễn Thị N1số tiền nói trên.

[8] Trong vụ án này ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị N2 là những người mua lại tài sản do Hồ Thanh T14 đoạt. Tuy nhiên, khi mua tài sản ông H3 bà N1không biết đó là tài sản do T15 cắp mà có, nên hành vi của ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị Như K thành tội phạm.

Đối với ông Hồ Đức N1- là người sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô số khung: 010089; Số máy: LC150FMG00000270, không có biển kiểm soát. Ngày 14/8/2024, Hồ Thanh T16 ý sử dụng xe mô tô nói trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, ông N8 biết, vì vậy không xem xét xử lý đối với ông N.

[9] Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Thanh T13 chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hồ Thanh T13 chịu 300.000đ của số tiền phải bồi hoàn cho ông Đoàn Văn H3 bà Nguyễn Thị Như .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. .

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Thanh T17 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 20/8/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Thanh T phải bồi hoàn cho ông Đoàn Văn H số tiền 640.000đ (sáu trăm bốn mươi nghìn đồng); bồi hoàn cho chị Nguyễn Thị N9 6(sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất được xác định theo Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành

án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 trả lại cho ông Hồ Đức N10 (một) xe mô tô, có tem nhãn chữ “Honda, Dream II” trên thân xe màu sơn: Trắng-Nâu, Số khung: 010089, số máy: LC150FMG00000270, xe đã qua sử dụng.

5. Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Thanh T13 chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/11/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án tại nơi cư trú.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại; người có QLNVLQ; -
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Đoàn Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Thanh T; phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger