Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa : ông Nguyễn Quốc Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân :

  • 1. Ông Cao Hoài Hiêm;
  • 2. Ông Trần Văn Hùng.

Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Lê Hoành Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:45/2024/QĐXXST-HS ngày 05-6-2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Minh T (Q), sinh năm 1978, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký HKTT: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: vô danh, mẹ là Mai Thị V (chết); có vợ là: Nguyễn Thị Cẩm N; con có 04 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: tại Bản án số 53/ST-HS ngày 04/12/2000 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Minh T 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân” (chưa bồi thường dân sự). Tại Bản án số: 95/STHS ngày 10/11/2004 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Minh T 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (chưa thi hành án phí); tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/01/2024, tạm giam ngày 29/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)

2. Trần Quốc V1 (V), sinh năm 1989, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn V2 và bà Phạm Thị Đ; có vợ là: Trương Thị Ngọc M; con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định số 143/QĐ-XPHC ngày 04/12/2022 của Công an phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Trần Quốc V1 số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Về nhân thân: tại Bản án số: 74/HSST ngày 12/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt Trần Quốc V1 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Quyết định số 38/QĐ-TA ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; tại Quyết định số 48/QĐ-TA ngày 23/8/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)

Người làm chứng: Lê Thanh P, sinh năm 1976; trú tại: khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 19/01/2024, Trần Quốc V1 đang ở cùng với Nguyễn Minh T tại khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên T gọi điện cho Lê Văn T1 hỏi mua chất ma túy với số tiền 500.000 đồng thì T1 đồng ý. Truyền giao ma túy cho Lê Thanh P, sinh năm 1976 đem đến bán cho T. Sau khi nhận được ma túy, T rủ P ở lại sử dụng ma túy và chỉ chỗ cho V1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để Việt đổ ma túy vào ống thủy tinh. Lúc này, do ống thủy tinh dạng phễu bị vỡ nên V1 lấy ống thủy tinh khác thay thế và dùng kéo cắt bịch nylon đổ chất ma túy vào, dùng bật lửa đốt nóng cùng với T, P luân phiên sử dụng. Đến 14 giờ cùng ngày, qua kiểm tra Công an thị xã T đã mời T, P về trụ sở làm việc. Tại đây, T tự nguyện giao nộp 01 ống thủy tinh dạng phễu, bên trong có chứa chất màu nâu trắng (nghi là chất ma túy, ký hiệu M15) và một số vật chứng khác có liên quan. Riêng V1 đến ngày 01/3/2024 bị Công an mời làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất màu nâu trắng (ký hiệu M15) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0613 gam.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 20/01/2024 tại Trạm y tế phường Trảng Bàng đối với Nguyễn Minh T, Lê Thanh P, thể hiện: Dương tính với chất ma túy.

Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKSTrB ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Trần Quốc V1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b, h Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo V1 từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về bào chữa: bị cáo T và V1 thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến gì bào chữa cho mình.

Về nói lời nói sau cùng: bị cáo T và V1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của họ đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, việc xét xử vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên

trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Về tội danh: trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo T và V1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau:

Vào lúc 12 giờ ngày 19/01/2024, tại khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Minh T, Trần Quốc V1 có hành vi tổ chức và cùng Lê Thanh P sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Trần Quốc V1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân của bị cáo:
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy 02 bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với 02 bị cáo.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: 02 bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  1. Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo T và V1 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

Bị cáo T và V1 có nhân thân xấu; bị cáo T phạm tội đối với 2 người và lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung theo quy định tại điểm b, h Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo V1 phạm tội đối với 2 người và từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án tương

xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  1. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
  • 01 (một) gói niêm phong ghi số: 157/M15, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Đức T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Sau giám định còn lại 01 (một) ống thủy tinh dạng phễu; 01 (một) chai nhựa có nắp màu trắng, trên nắp có khoét hai lỗ tròn, một lỗ gắn một ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) bật lửa màu trắng (đã qua sử dụng). Đây là các vật chứng liên quan đến việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh, số IMEI 1: 860621058775257, số IMEI 2: 860621058775240, bên trong có 01 (một) sim số: 0963.443.451 và 01 (một) sim số: 0375.371.007 (điện thoại bị vỡ màn hình). Bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc nhận ma túy nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, màu hồng, số IME1 1: 863632034378378, số IMEI 2: 863632034378360, bên trong có 01 (một) sim số: 0964.151.351 và 01 (một) sim số: 0963.433.451 (điện thoại bị vỡ màn hình). Đây là tài sản cá nhân của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.

Ghi nhận các vật chứng khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

  1. Về án phí: bị cáo T và V1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Minh T, Trần Quốc V1 đã bị Công an thị xã T xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với ông Võ Lê Thanh P1 không biết T, V1 sử dụng địa điểm do mình quản lý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý.

Riêng Lê Văn T1 và Lê Thanh P đã bị khởi tố, điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong vụ án khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T (Q) 08 (T3) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/01/2024.
  2. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc V1 (V) 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/3/2024.
  3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh, số IMEI 1: 860621058775257, số IMEI 2: 860621058775240, bên trong có 01 (một) sim số: 0963.443.451 và 01 (một) sim số: 0375.371.007 (điện thoại bị vỡ màn hình).
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi số: 157/M15, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Đức T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Sau giám định còn lại 01 (một) ống thủy tinh dạng phễu; 01 (một) chai nhựa có nắp màu trắng, trên nắp có khoét hai lỗ tròn, một lỗ gắn một ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) bật lửa màu trắng (đã qua sử dụng).
    • + Trả cho bị cáo T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, màu hồng, số IME1 1: 863632034378378, số IMEI 2: 863632034378360, bên trong có 01 (một) sim số: 0964.151.351 và 01 (một) sim số: 0963.433.451 (điện thoại bị vỡ màn hình).
  4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo T và bị cáo V1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Thành và đp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger