Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/DS-ST

Ngày: 26/7/2024

(V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Văn An

Các hội thẩm nhân dân:

1/.Ông Mai Quốc Bảo

2/.Bà Dương Thị Tú Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 283/2023/TLST- DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 158/2024/QÐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B.

Địa chỉ: Số B, đường T, phường T, quận H, Tp ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S, sinh năm 1967; Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn D, sinh năm 1975; Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh B1.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Lưu Thế T; Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ.

Địa chỉ: Số E, đường T, khóm E, phường G, Tp ., tỉnh Bạc Liêu.

2/. Bị đơn: Ông Lương Minh C, sinh ngày 25/11/1971.

Địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

3/. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1/. Anh Lương Văn N, sinh năm 1993.

3.2/. Chị Hồ Thị T1, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

(Đại diện Ngân hàng có đơn xin vắng mặt; Các đương sự khác vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/3/2023 và các biên bản lấy lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Trước đây vào ngày 28/7/2022, ông Lương Minh C có ký kết hợp đồng tín dụng số: HDTD22C2022186 với Ngân hàng TMCP B để vay số tiền là 220.000.000 đồng. Mục đích vay là để trồng lúa, chăn nuôi, thời hạn vay là 12 tháng, với lãi suất là 11%/năm.

Ngoài ra, vào ngày 25/10/2022, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Lương Minh C với số tiền là 20.000.000 đồng theo giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với thời hạn vay là 36 tháng, với lãi suất là 28%/năm. Từ khi phát hành thẻ tín dụng trên cho đến nay ông C không trả nợ đúng hạn, phát sinh nợ quá hạn nên đã vi phạm hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng.

Để đảm bảo khoản nợ vay trên, ông Lương Minh C có thế chấp cho Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh B1 tài sản là phần đất có diện tích 6.899,9m² do ông C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất thuộc thửa 641 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Theo hợp đồng thế chấp số: HĐTC22C2022116 ngày 28/7/2022.

Do ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên đến nay Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay trên qua nợ quá hạn. Tính đến nay, ông C còn thiếu nợ Ngân hàng tổng số tiền là 245.460.913 đồng (Trong đó số tiền gốc là 238.942.438 đồng, tiền lãi là 6.518.47 đồng (Tạm tính đến ngày 16/02/2023)

Nay Ngân hàng TMCP B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền là 245.460.913 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp không trả được số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Đối với bị đơn ông Lương Minh C: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông C nhưng ông C không đến Tòa án và cũng không cung

cấp văn bản thể hiện ý kiến trình bày của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lương Văn N và chị Hồ Thị T1 đã được Tòa án cấp, tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng anh N và chị T1 không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn ông Lương Minh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lương Văn N và chị Hồ Thị T1 chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án tại khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu đề nghị Tòa án tiến hành tạm ngừng phiên tòa để thu thập tài liệu, chứng cứ như sau:

  • Đề nghị Tòa án thu thập anh Lương Văn N và chị Hồ Thị T1 quản lý, sử dụng phần đất thế chấp Ngân hàng trước hay sau khi ông C vay tiền của Ngân hàng.
  • Đề nghị Tòa án xem xét hồ sơ thẩm định cho vay, Ngân hàng có đi thẩm định phần đất thế chấp hay không?
  • Đề nghị Tòa án xem xét đơn khởi kiện của Ngân hàng, Ngân hàng có yêu cầu xử lý phần đất thế chấp hay không?

Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập các vấn đề nêu trên theo yêu cầu của Viện kiểm sát. Do đó, Kiểm sát viên không phát biểu về nội dung giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Lương Minh C, ông C có địa chỉ cư trú tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đối với yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm của ông Lưu Thế T, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của Ngân hàng.

Đối với ông Lương Minh C, anh Lương Văn N và chị Hồ Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng ông C, anh N và chị T1 vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B về việc buộc ông Lương Minh C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vay theo hợp đồng tín dụng số: HDTD22C2022186 ngày 28/7/2022, tạm tính đến ngày 26/7/2024 với tổng số tiền là 286.538.664 đồng. Trong đó số tiền gốc là 219.999.942 đồng, tiền lãi trong hạn là 54.557.385 đồng, tiền lãi quá hạn là 11.981.364 đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trước đây kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Ngoài ra, vào ngày 25/10/2022 Ngân hàng TMCP B đã cấp thẻ tín dụng cho ông Lương Minh C với số tiền là 20.000.000 đồng theo giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với thời hạn vay là 36 tháng. Do trong quá trình thực hiện hợp đồng ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên đến nay Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay trên qua nợ quá hạn. Tính đến ngày (26/7/2024) ông C còn thiếu nợ Ngân hàng tổng số tiền là 30.830.132 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 30.830.132 đồng. Trong đó số tiền gốc là 20.000.000 đồng, lãi quá hạn là 10.830.132 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán dứt nợ.

[3] Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số: HDTD22C2022186 ngày 28/7/2022, ông C đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HĐTC22C2022116 ngày 28/7/2022 với Ngân hàng TMCP B. Tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BI 320819 phần đất có diện tích 6.899,9m², thuộc thửa số 641, tờ bản đồ số 04 phần đất tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do UBND huyện P cấp ngày 17/4/2012 cho ông Lương Minh C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông Lương Minh C. Nhưng ông C không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Từ đó cho thấy ông Lương Minh C thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Lương Minh C thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết tạm tính đến ngày 26/7/2024 với tổng số tiền 286.538.664 đồng (Trong đó số tiền gốc là 219.999.942 đồng, tiền lãi trong hạn là 54.557.385 đồng, tiền lãi quá hạn là 11.981.364 đồng) và tổng số tiền nợ thẻ tín dụng là 30.830.132 đồng (Trong đó số tiền gốc là 20.000.000 đồng, lãi quá hạn là 10.830.132 đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán dứt nợ là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.

[5] Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Để bảo đảm cho khoản vay trên ngày 28/7/2022, ông C đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HĐTC22C2022116 với Ngân hàng TMCP B, việc Ngân hàng với ông C ký kết hợp đồng thế chấp được xác lập trên cơ sở tự nguyện, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký, xác nhận của các bên, không bị lừa dối, hay cưỡng ép, không trái đạo đức xã hội và đã được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BI 320819 phần đất có diện tích 6.899,9m², thuộc thửa số 641, tờ bản đồ số 04 phần đất tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do UBND huyện P cấp ngày 17/4/2012 cho ông Lương Minh C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[6] Do đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay nhưng ông C không thực hiện đúng theo thỏa thuận với Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định tại các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 nên Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là phù hợp theo quy định của tại các Điều 295, 297, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự 2015.

Như vậy, trong trường hợp ông Lương Minh C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: HĐTC22C2022116 ngày 28/7/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Xét thấy mức lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp với Điều 91, Điều 95 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng năm 2017.

[8] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đề ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long thể hiện, phần đất là tài sản thế chấp của ông Lương Minh C đối với Ngân hàng hiện nay do anh Lương Văn N và chị Hồ Thị T1 là người đang trực tiếp quản lý, canh tác trên phần đất này. Tòa án đã đưa anh N và chị T1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và đã tống đạt các văn bản tố tụng cũng như triệu tập anh N và chị T1 đến Tòa án để làm việc nhưng anh N và chị T1 không hợp tác nên Tòa án không biết được vì sao anh N và chị T1 là người trực tiếp quản lý, canh tác trên phần đất này. Do anh N và chị T1 không hợp tác trong quá trình tố tụng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến chính quyền lợi của đương sự nên Hội đồng xét xử tách ra thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.

Buộc anh Lương Văn N và chị Hồ Thị T1 cùng có nghĩa vụ phải giao lại phần đất có diện tích 6.899,9m², thuộc thửa số 641, tờ bản đồ số 04 phần đất tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho ông C phần đất có vị trí tứ cạnh cụ thể như sau:

+ H: Giáp phần đất của ông Nguyễn Văn T2 có cạnh dài 104,3m + 16,2m.

+ Hướng Tây: Giáp phần đất của ông Dương Văn D1 và ông Hồ Văn T3 có cạnh dài 21,9m + 120,1m + 116m + 21,4m.

+ Hướng N1: Giáp con đường đất (kênh xáng cụt) có cạnh dài 68,6m.

+ Hướng Bắc: Giáp phần đất của ông Mười H có cạnh dài 46,4m.

[9] Xét đề nghị của kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh làm rõ việc anh Lương Văn N và chị Hồ Thị T1 quản lý, sử dụng phần đất thế chấp Ngân hàng trước hay sau khi ông C vay tiền của Ngân hàng? Đồng thời, khi cho ông C vay số tiền trên của Ngân hàng thì Ngân hàng có đi thẩm định phần đất thế chấp hay không? Và theo đơn khởi kiện thì Ngân hàng có yêu cầu xử lý phần đất thế chấp hay không? thì Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án và các mục [5] và [8] của phần nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật nên từ đó không chấp nhận yêu cầu này của Kiểm sát viên.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên buộc ông Lương Minh C phải nộp số tiền 15.868.400 đồng (Mười lăm triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn bốn trăm đồng). Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. H1 lại cho Ngân hàng số tiền 6.100.000 đồng theo biên lai thu số 0006455 ngày 30/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

[11] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 900.000 đồng ông Lương Minh C phải chịu. Ngân hàng không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã dự nộp chi phí thẩm định tại chỗ số tiền 900.000 đồng đã được chuyển thu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Buộc ông Lương Minh C nộp số tiền 900.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 295, 297, 298, 317, 318, 319, 401, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 91, 95 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2017;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với ông Lương Minh C về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  2. Buộc ông Lương Minh C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền là 317.368.796 đồng (Ba trăm mười bảy triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó, theo hợp đồng tín dụng là 286.538.664 đồng và theo hợp đồng nợ thẻ tín dụng là 30.830.132 đồng (Tạm tính đến ngày 26/7/2024) và ông Lương Minh C còn phải tiếp tục chịu khoản nợ lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và theo giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ.
  3. Buộc anh Lương Văn N và chị Hồ Thị T1 trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật phải có nghĩa vụ giao lại phần đất có diện tích 6.899,9m², thuộc thửa số 641, tờ bản đồ số 04 phần đất tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho ông C phần đất có vị trí tứ cạnh cụ thể như sau:
    • + H: Giáp phần đất của ông Nguyễn Văn T2 có cạnh dài 104,3m + 16,2m.
    • + Hướng Tây: Giáp phần đất của ông Dương Văn D1 và ông Hồ Văn T3 có cạnh dài 21,9m + 120,1m + 116m + 21,4m.
    • + Hướng N1: Giáp con đường đất (kênh xáng cụt) có cạnh dài 68,6m.
    • + Hướng Bắc: Giáp phần đất của ông Mười H có cạnh dài 46,4m.
  4. Trong trường hợp ông Lương Minh C không thanh toán trả số tiền trên thì Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền bán phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: HĐTC22C2022116 ngày 28/7/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Cụ thể là diện tích đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BI 320819 phần đất có diện tích 6.899,9m², thuộc thửa số 641, tờ bản đồ số 04 phần đất tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do UBND huyện P cấp ngày 17/4/2012 cho ông Lương Minh C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vị trí tứ cạnh cụ thể nêu trên.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Lương Minh C phải nộp số tiền 15.868.400 đồng (Mười lăm triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn bốn trăm đồng). Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. H1 lại cho Ngân hàng số tiền 6.100.000 đồng theo biên lai thu số 0006455 ngày 30/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
  6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 900.000 đồng ông Lương Minh C phải chịu. Ngân hàng không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã dự nộp chi phí thẩm định tại chỗ số tiền 900.000 đồng đã được chuyển thu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Buộc ông Lương Minh C nộp số tiền 900.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng.

7/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

8/. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Danh Văn An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 47/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng đối với ông Chiến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger