|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày 26-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Khắc C, sinh ngày 08/02/1981 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc K và bà Vũ Thị M; có vợ là Đào Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 733 ngày 23/12/1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân và Bản án số 13 ngày 30/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Đỗ Văn B, sinh ngày 22/6/1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân T và bà Vũ Thị L; có vợ là Nịnh Thị S và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. Vũ Trọng K1, sinh ngày 27/12/1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng Y và bà Phạm Thị N; có vợ là Vũ Thị N1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
4. Vũ Văn T1, sinh ngày 14/4/1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T2 và bà Bùi Thị H1; có vợ là Vũ Thị T3 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
5. Nguyễn Văn T4, sinh ngày 02/4/1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Vũ Thị Đ; có vợ là Bùi Thị Kim C1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người chứng kiến: Ông Bùi Đức T5; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có quan hệ quen biết, sáng ngày 26/5/2024 Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Khắc C và Vũ Trọng K1 lần lượt đến nhà Đỗ Văn B ngồi chơi uống nước. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày các đối tượng thống nhất rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền, hình thức đánh chắn tại phòng ngủ của B, tỷ lệ cược xuông 30.000 đồng, dịch 10.000 đồng. Bính lấy 02 bộ bài, 02 đĩa sứ có sẵn ở nhà và chia bài cho T4, K1, T1, C đánh bạc; cả nhóm thống nhất sau khi kết thúc việc đánh bạc, mỗi người sẽ trả công cho B 200.000 đồng, tổng là 800.000 đồng. Quá trình đánh bạc, C sử dụng 5.600.000 đồng để đánh bạc, thua 1.420.000 đồng; K1 sử dụng 3.400.000 đồng để đánh bạc, thắng 430.000 đồng; T1 sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc, thắng 140.000 đồng; T4 sử dụng 770.000 đồng đánh bạc, thắng 850.000 đồng. Khi đánh bạc không có ai canh gác, cảnh giới, cầm cố tài sản. Cả nhóm đánh bạc đến 10 giờ 30 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng, gồm 02 bộ bài chắn, mỗi bộ A quân bài, 02 đĩa sứ và tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 12.370.000 đồng. Đỗ Văn B tự nguyện giao nộp 200.000 đồng; lúc này các đối tượng chưa trả tiền công chia bài cho B.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 06/QĐ-VKSKT ngày 13/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố các bị cáo Nguyễn Khắc C, Đỗ Văn B, Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 đều về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Quyết định truy tố đã nêu.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Quyết định truy tố và đề nghị Tòa án:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Khắc C mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Đỗ Văn B mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt:
+ Vũ Trọng K1 mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội về tội “Đánh bạc”.
+ Vũ Văn T1 mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội về tội “Đánh bạc”.
+ Nguyễn Văn T4 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội về tội “Đánh bạc”.
Trừ cho các bị cáo Vũ Trọng K1, Nguyễn Văn T4, Vũ Văn T1 thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024 theo nguyên tắc cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng của mỗi bị cáo từ 5% - 10% để sung quỹ Nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C, B. Đối với các bị cáo K1, T4, T1 bị khấu trừ một phần thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
+ Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu số tiền 12.370.000 đồng của các bị cáo dùng vào đánh bạc để sung vào ngân sách Nhà nước; tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài chắn, 02 đĩa sứ.
+ Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn B số tiền 200.000 đồng vì không dùng vào việc phạm tội; nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, các bị cáo C, K1, T1, T4 đều đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo B tranh luận về mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là nặng, xin được hưởng hình phạt cải tạo ngoài xã hội, bởi vì việc đánh bạc của các bị cáo là bột phát, không có sự thống nhất tổ chức từ trước, mục đích bị cáo B sử dụng số tiền thu của các bị cáo khác để mua thức ăn tiếp đãi các bị cáo. Kiểm sát viên đối đáp bị cáo B sử dụng nhà ở do mình quản lý làm địa điểm đánh bạc, cung cấp các dụng cụ để đánh bạc, tích cực chia bài cho các bị cáo khác; chính sự giúp sức tích cực của B đã tạo điều kiện thuận lợi để các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, căn cứ vào tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị. Không ai có ý kiến tranh luận gì thêm. Các bị cáo nói lời sau cùng đều tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 09 giờ 15 phút đến 10 giờ 30 phút ngày 26/5/2024, tại phòng ngủ của Đỗ Văn B ở thôn Đ, xã N, huyện K, Nguyễn Khắc C, Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, hình thức đánh chắn với tổng số tiền dùng để đánh bạc
là 12.370.000 đồng; Đỗ Văn B mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng là đồng phạm giúp sức tích cực, dùng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để các bị cáo khác đánh bạc, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, chia bài cho các đối tượng đánh bạc nhằm hưởng lợi bất chính thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của Nguyễn Khắc C, Đỗ Văn B, Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 đã thỏa mãn cấu thành đồng phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Cần xử phạt nghiêm đối với các bị cáo.
[4] Về đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, các bị cáo đều có sự nhất trí, cố ý cùng thực hiện tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc từ trước và phân công thực hiện tội phạm, không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Vì vậy, đây thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo C có nhân thân xấu, sử dụng số tiền đánh bạc 5.600.000 đồng nhiều nhất, nên có vai trò cao nhất trong vụ án. Bị cáo B dùng địa điểm là nhà ở thuộc quyền quản lý của mình để các bị cáo khác đánh bạc, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội là 02 bộ bài, 02 đĩa sứ có sẵn ở nhà, chia bài cho các đối tượng đánh bạc nhằm hưởng lợi bất chính số tiền 800.000 đồng, nên có vai trò thứ hai. Bị cáo K1 sử dụng số tiền 3.400.000 đồng để đánh bạc; T1 sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc nên có vai trò thứ ba. Bị cáo T4 sử dụng số tiền đánh bạc 770.000 đồng ít nhất nên có vai trò thấp nhất trong vụ án.
[5] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Khắc C bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng kết án tại Bản án số 733 ngày 23/12/1999, xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân”, bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy kết án tại Bản án số 13 ngày 30/5/2018, xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc. C đã chấp hành xong toàn bộ các bản án trên và đã được xóa án tích. Các bị cáo Đỗ Văn B, Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 đều không có tiền án, tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Ngoài ra, bị cáo Đỗ Văn B đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có bố đẻ là thương binh; bị cáo Vũ Trọng K1 có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ; bị cáo Nguyễn Khắc C có mẹ đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Pháp, Mỹ; bị cáo Vũ Văn T1 đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; gia đình các bị cáo Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 đều có đơn xin bảo
lãnh được chính quyền địa phương xác nhận; nên các bị cáo trong vụ án đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đỗ Văn B, Vũ Văn T1, Vũ Trọng K1, Nguyễn Văn T4 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Về hình phạt chính: Đây là vụ án đồng phạm, khi quyết định hình phạt Tòa án xét đến tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo; vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Tòa án xét thấy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo C và B, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm; không có căn cứ chấp nhận lời trình bày ý kiến của bị cáo B về mức hình phạt đề nghị được cải tạo ngoài xã hội. Đối với các bị cáo K1, T4, T1 có vai trò thấp hơn trong vụ án, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú và gia đình quản lý là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, bị cáo K1, T4, T1 khai nhận có thu nhập kinh tế ổn định là 5.000.000 đồng/tháng; phù hợp với các tài liệu xác minh tại địa phương, cần khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của mỗi bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét đến tình hình tài sản của người phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C, B. Đối với các bị cáo K1, T4, T1 bị khấu trừ một phần thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Số tiền 12.370.000 đồng của các bị cáo dùng vào đánh bạc, cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. 02 bộ bài chắn, 02 đĩa sứ là công cụ, phương tiện phạm tội; cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 200.000 đồng bị cáo B giao nộp không dùng vào việc phạm tội; cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[11] Trong vụ án này, những người khác trong gia đình của bị cáo B không biết các đối tượng đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Khắc C, Đỗ Văn B, Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4.
+ Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn B, Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4.
+ Áp dụng thêm Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Khắc C, Đỗ Văn B.
+ Áp dụng thêm Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4.
- Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Khắc C, Đỗ Văn B, Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 đồng phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt:
+ Bị cáo Nguyễn Khắc C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024.
+ Bị cáo Đỗ Văn B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024.
+ Bị cáo Vũ Trọng K1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 03 ngày tạm giữ (từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024) bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo Vũ Trọng K1 trong thời gian cải tạo không giam giữ, mỗi tháng bị khấu trừ 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
+ Bị cáo Vũ Văn T1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 03 ngày tạm giữ (từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024) bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo Vũ Văn T1 trong thời gian cải tạo không giam giữ, mỗi tháng bị khấu trừ 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
+ Bị cáo Nguyễn Văn T4 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 03 ngày tạm giữ (từ ngày 26/5/2024 đến ngày 29/5/2024) bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo
Nguyễn Văn T4 trong thời gian cải tạo không giam giữ, mỗi tháng bị khấu trừ 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
Giao bị cáo Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát và giáo dục.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.
Trong trường hợp bị cáo áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của UBND cấp xã, trường hợp không đồng ý thì UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ vi phạm pháp luật, UBND cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.”
- Căn cứ vào Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự; hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Vũ Trọng K1, Vũ Văn T1, Nguyễn Văn T4 kể từ ngày tuyên án.
- Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Khắc C, Đỗ Văn B không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
- Về xử lý vật chứng:
+ Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 12.370.000đ (mười hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) (theo ủy nhiệm chi tại kho bạc nhà nước huyện K ngày 03/7/2024); Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài chắn, (trong đó 01 bộ bài chắn màu xanh và 01 bộ bài chắn màu đỏ), 02 đĩa sứ hình tròn màu trắng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
+ Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn B số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (theo ủy nhiệm chi tại kho bạc nhà nước huyện K ngày 03/7/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngà |
- Lưu: VP, hồ sơ.
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về đánh bạc
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khắc C
