Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 26/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Phan Tấn Lãm
    2. Bà Nguyễn Thị Mùa
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Dương Mỹ Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1985; nơi sinh: Bình Phước; Nơi đăng ký HKTT: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; chỗ ở hiện nay: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Thợ sữa xe; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Lê Thị Anh Đ (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim L1 (đã ly hôn), có 02 người con; Tiền án: Ngày 26/11/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 58/2019/HS-ST (Bị cáo chưa được xóa án tích); Tiền sự: Ngày 19/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” trong thời gian 24 tháng (bị cáo chưa chấp hành). Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã kể từ ngày 28/3/2024 cho đến nay.

* Người bị hại: Cơ sở Cai nghiện ma túy và Bảo trợ xã hội Phú Văn

Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước

Người đại diện theo ủy quyền : Ông Đặng Thanh L2, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước (có mặt)

* Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1992, địa chỉ: Ấp Đ, huyện Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
  • - Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979, địa chỉ: Thôn S, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Ông Phan Văn T2, sinh năm 1990, địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 19/3/2019 Phan Văn T2 (H), Nguyễn Tiến S (H) và Nguyễn Văn T đang ngồi chơi tại nhà trọ của T, lúc này Nguyễn Văn T1 đến thì T rủ T2, S, T1 đi trộm cắp hạt điều đem bán lấy tiền tiêu xài thì tất cả đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày T2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Blade (không rõ biển kiểm soát) chở S, còn T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 51P6 - 0712 chở T đến vườn điều của Sở cai nghiện ma túy và bảo trợ xã hội P thuộc thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước rồi dừng lại và tắt máy xe mô tô. Trạng lấy điện thoại di dộng ra rọi đèn chiếu sáng, con T1 sử dụng đèn pin đội trên đầu soi cho tất cả cùng nhau nhặt, tách hạt điều ra khỏi quả rồi cho vào bao tải màu vàng. Trạng, T1, S, T đến khoảng 0 giờ 50 phút ngày 20/3/2023 thì nghỉ ngơi không nhặt nữa; S, T khiêng bao hạt điều lên yên xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade (không rõ biển kiểm soát) để T2 chở, còn T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wav, biển số 51P6 – 0712 chở S và T đi về nhà. Khi đến thôn Đ, xã P thì gặp lực lượng Công an xã P đang đi tuần tra, phát hiện và thu giữ: 01 bao tải màu vàng bên trong chứa 37kg hạt điều thô; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade (không rõ biển kiểm soát), 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 51P6 – 0712 đẻ xác minh và làm rõ vụ việc.

Ngày 25/3/2023, Công an xã P bàn giao tang vật cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B để điều tra theo thẩm quyền.

Theo kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Tại thời điểm ngày 20/3/2023, trị giá của 37kg hạt điều thô mới thu hoạch chưa qua xử lý là 925.000 đồng (Bút lục:09)

Vật chứng thu giữ: 01 bao tải màu vàng bên trong chứa 37kg hạt điều thô; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade (không rõ biển kiểm soát), 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 51P6 – 0712 để xác minh và làm rõ vụ việc.

Bản cáo trạng số 40/CT-VKSBGM ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 đến 16 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 37kg hạt điều thô là tài sản hợp pháp của Cơ sở cai nghiện ma túy và Bảo trợ xã hội P, do đó ngày 20/3/2023 Công an xã P đã trả toàn bộ số hạt điều này cho ông Đặng Thanh L2 là người đại diện hợp pháp của của Cơ sở cai nghiện ma túy và Bảo trợ xã hội P, nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
  • - Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda loại Blade (không rõ biển kiểm soát) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 51P6 – 0712, quá trình điều tra xác định là xe mô tô của Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Tiến S mua lại để làm phương tiện đi lại. Ngày 28/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã bàn giao lại xe cho công an xã P để tiếp tục xác minh, xử lý theo thủ tục hành chính, do đó Viện kiểm sát không đề cập đến.
  • - Đối 01 chiếc điện thoại di động Phan Văn T2 sử dụng làm đèn pin trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, T2 đã làm mất, Cơ quan điều tra không thu giữ được, do đó Viện kiểm sát không đề cập đến.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Đặng Thanh L2 là người đại diện theo ủy quyền Cơ sở Cai nghiện ma túy và Bảo trợ xã hội P không yêu cầu nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý.

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của các bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, nên ngày 19/3/2023 Nguyễn Văn T, Nguyễn Tiến S, Phan Văn T2Nguyễn Văn T1 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 37kg hạt điều thô của Cơ sở Cai nghiện ma túy và Bảo trợ xã hội P thuộc thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước, giá trị tài sản chiếm đoạt là 925.000 đồng. Do bị cáo T đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích mà lại phạm tội trộm cắp tài sản, nên hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

    Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi “Trộm cắp tài sản” bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo T gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa tội phạm và cảm hóa, giáo dục người phạm tội.
  4. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
    • - Về tính tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp không lớn đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. Xét về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  6. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Đ1 điện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng và không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  7. Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với 37kg hạt điều thô là tài sản hợp pháp của Cơ sở cai nghiện ma túy và Bảo trợ xã hội P, do đó cần trả toàn bộ số hạt điều này cho ông Đặng Thanh L2 là người đại diện hợp pháp của của Cơ sở cai nghiện ma túy và Bảo trợ xã hội P.
    • - Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda loại Blade (không rõ biển kiểm soát) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 51P6 – 0712, quá trình điều tra xác định là xe mô tô của Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Tiến S mua lại để làm phương tiện đi lại không có giấy tờ hợp pháp. Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao cho Công an xã P tiếp tục xác minh, xử theo thủ tục hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
    • - Đối 01 chiếc điện thoại di động Phan Văn T2 sử dụng làm đèn pin trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, T2 đã làm mất nên không xem xét giải quyết.
  8. Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Thanh L2 là người đại diện theo ủy quyền Cơ sở Cai nghiện ma túy và Bảo trợ xã hội P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
  9. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 28/3/2024.
  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập;
  • - Công an huyện Bù Gia Mập;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger