|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày 26 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Thanh Trang.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Đỗ Quốc B sinh ngày 27/5/1993 tại thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính nam; nơi cư trú: Tổ A, khóm D, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Lê Văn N, sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Đỗ Thị C, sinh năm 1962; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là người thứ hai. Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/12/2023 (có mặt).
Bị hại: Hứa Duy K, sinh năm 2009; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Hứa Duy K1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trần Phước T là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Cao Văn Thanh E, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; Nơi cư trú: khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền sử dụng ma túy, Lê Đỗ Quốc B nảy sinh ý định đi tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, B một mình đi bộ, đến khu vực tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, phát hiện xe đạp điện của Hứa Duy K đậu trước tiệm Internet Ngọc N1, không người trông giữ, B lấy xe của K mang bán cho Cao Văn Thanh E được 350.000 đồng, sử dụng ma túy hết; còn Thanh E bán lại xe cho Nguyễn Thị M, giá 600.000 đồng. K trình báo cơ quan Công an. Bị phát hiện, ngày 28/12/2023, B đầu thú; Thanh E và M không biết do xe B lấy trộm, đã giao nộp lại xe.
Vật chứng thu giữ: 01 DVD chứa đoạn camera ghi diễn biến hành vi trộm của Lê Đỗ Quốc B.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 762/KL-ĐG ngày 29/12/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 xe đạp điện, có gắn bình nhãn hiệu Yamaha Pas, màu sơn trắng, trị giá 2.500.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố, tạm giam Lê Đỗ Quốc B để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKSCĐ-HS ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Lê Đỗ Quốc B về hành vi “Trộm cắp tài sản".
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Đỗ Quốc B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 DVD chứa đoạn camera ghi diễn biến hành vi trộm của bị cáo.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và thống nhất kết quả Hội đồng định giá, không có tranh luận và bào chữa, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại xác định bị hại đã nhận được tài sản nên không có yêu cầu khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, tại tiệm I thuộc tổ A, khóm C, phường V, thành phố C; bị cáo B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe đạp điện có gắn bình nhãn hiệu Yamaha Pas, màu sơn trắng, trị giá 2.500.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo B là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo học lực thấp, có trình độ hiểu biết pháp luật kém. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ của vụ án là ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn thành phố C các tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân đang có chiều hướng gia tăng, các đối tượng ngày càng sử dụng nhiều các thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, buộc bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nên đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo B có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 DVD chứa đoạn camera ghi diễn biến hành vi trộm của Lê Đỗ Quốc B.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Đỗ Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Đỗ Quốc B 02 năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 28/12/2023 (Ngày hai mươi tám, tháng mười hai, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 DVD chứa đoạn camera ghi diễn biến hành vi trộm của Lê Đỗ Quốc B.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Đỗ Quốc B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 02 năm tù giam.
