|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2023/HS-ST Ngày: 25/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Trường
Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Chí Báo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Duy N; giới tính: N1; Sinh năm: 1996 tại huyện T, tỉnh Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Cha: Nguyễn Thành H, đã chết; mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964, trú tại Thôn E, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 05 anh, chị; Nguyễn Duy N là con út trong gia đình;Vợ: Nguyễn Thị Ái D (đã chết); Có 02 người con lớn nhất sinh năm: 2017 nhỏ nhất 2021.
Tiền sự: chưa
Tiền án: Ngày 15/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/08/2021.
Nhân thân:
Ngày 17/07/2020 bị Công an xã Đ, huyện T xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản. Nộp phạt ngày 06/08/2020.
Ngày 22/08/2019 bị Chủ tịch UBND xã N, huyện T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng về hành vi : Sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 21/11/2019.
Bị cáo hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận từ ngày 12/04/2023. Có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Văn T; giới tính: Nam; Sinh năm 1987 tại huyện T, tỉnh Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Cha: Lê Xuân K, sinh năm: 1964; mẹ: Trần Thị X, sinh năm 1964, trú tại Thôn E, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 03 anh, em; Lê Văn T là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Trần Thị Thúy N2 – 1991; Có 02 người con lớn nhất sinh năm: 2016 nhỏ nhất 2020.
Tiền sự, Tiền án: chưa
Nhân thân: Ngày 17/04/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2020.
Bị cáo hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận từ ngày 26/05/2023. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Cao Thị L, sinh năm:1993. Nơi cư trú: Tổ C, thôn B, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
+ Lê Đức H2, sinh năm: 2001 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 2, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+Phạm Hoàng T1, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ H, khu phố B, Phường Đ, TP ., tỉnh Bình Thuận.
+Huỳnh Văn C, sinh năm: 1992 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Đội 1, Thôn A, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
+Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1964 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn E, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Nhân chứng:
+Cao Thị N3, sinh năm: 1971(vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ C, thôn B, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+Ngô Quang P, sinh năm: 1997(vắng mặt)
Nơi cư trú: số C, đường số C, thôn E, xã Đ, huyện Đ, Tỉnh Bình Thuận.
+Trần Thị Trà M, sinh năm: 2004 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn B, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 21/3/2023 đến ngày 07/4/2023, Nguyễn Duy N, sinh năm 1996 trú tại thôn E, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận và Lê Văn T, sinh năm 1987, trú tại thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã S, huyện Đ cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 02 giờ 00 ngày 21/3/2023, Nguyễn Duy N điều khiểu xe mô tô biển số 60B6-33741 chở Lê Văn T đi đến khu vực xã S, huyện Đ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi khu vực nhà bà Cao Thị N3, sinh năm: 1971 ở tổ C, thôn B, xã S thấy nhà không khóa cửa nên Lê Văn T đứng trước cổng nhà bà Cao Thị N3 để giữ xe và canh người, Nguyễn Duy N đi vào bên trong nhà bà Cao Thị N3 tìm tài sản. Nguyễn Duy N thấy xe mô tô biển số 86B8-63136 của bà Cao Thị L, sinh năm: 1993 trú tại tổ C, thôn B, xã S dựng ở phòng khách, có sẵn chìa khóa trên xe nên Nguyễn Duy N đến dắt trộm xe mô tô biển số 86B8-63136 ra ngoài cổng và nổ máy xe đi tìm chỗ tiêu thụ; Nguyễn Duy N điện thoại cho một đối tượng tên M1 (không rõ nhân thân) ở thành phố P để bán xe, M1 đồng ý mua với giá 6.000.000 đồng và hẹn nhau vị trí giao dịch là trạm thu phí. Còn Lê Văn T điều kiển xe mô tô 60B6-33741 đi về nhà. Sau khi thỏa thuận xong Nguyễn Duy N điều khiển xe đến vị trí thỏa thuận giao xe cho đối tượng tên M1 và nhận 6.000.000 đồng; rồi đón xe về lại nhà; Nguyễn Duy N, Lê Văn T chia nhau tiêu xài. Qua quá trình điều tra xác định được có một đối tượng không rõ nhân thân đã đưa xe và giấy tờ xe đến bán cho tiệm mua bán xe của Hoàng Văn C1, sinh năm: 1992 ở thôn A, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngải, sau khi mua lại Hoàng Văn C1 đã bán lại cho Phạm Hoàng T1, sinh năm: 1993 trú tại khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Khi mua lại Phạm Hoàng T1 rao bán trên mạng xã hội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành thu giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 18 ngày 11/04/2023 của Hội đồng định giá huyện Đ xác định: 01 chiếc xe mô tô biển số: 86B8-631.36 trị giá 35.000.000đ (Mười triệu đồng).
Vụ thứ hai: Vào khoảng 03 giờ 00 ngày 07/4/2023, Nguyễn Duy N điều khiểu xe mô tô của mình biển số 60B6-33741 chở Lê Văn T đi đến khu vực xã S, huyện Đ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến đoàn đường M - Đ thuộc thôn B, xã S; thấy tại sân của quán C2 không khóa cổng, có dựng 01 xe mô tô biển số 60C1-14538 của Lê Đức H2, sinh năm: 2001 trú tại thôn D, xã Đ không có người trông coi. Lê Văn T đứng trước cổng để giữ xe và canh người; Nguyễn Duy N dùng tay kéo cổng của quán ra rồi vào sân dắt xe mô tô biển số 60B6-33741 ra ngoài cổng. Nguyễn Duy N ngồi trên xe mô tô 60C1- 14538 vừa trộm được còn Lê Văn T điều khiển xe mô tô 60B6-33741 dùng chân đẩy xe mô tô 60C1- 14538 đi về hướng thị trấn V để tìm nơi bán xe. Vì không tìm được nơi bán xe mô tô nên Nguyễn Duy N, Lê Văn T đưa xe 60C1-14538 vừa trộm được ra cánh đồng Võ Xu thuộc khu phố I, thị trấn V giấu xe đến tối hôm sau cả hai đến dùng dụng cụ có sẵn trong xe để tháo biển số xe và một số bộ phận nhựa bên ngoài của xe đưa đến địa điểm gần đó giấu. Còn xe mô tô 60C1- 14538 vẫn cất giấu tại chỗ cũ rồi đi về nhà. Sáng ngày hôm sau có một người tên T2 nhờ Lê Văn T tìm lại giúp chiếc xe 60C1-14538. Lê Văn T nói với Nguyễn Duy N, Nguyễn Duy N nói Lê Văn T chỉ chỗ cho Lê Đức H2 tìm lại xe.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19 ngày 11/04/2023 của Hội đồng định giá huyện Đ xác định: 01 chiếc xe mô tô biển số: 60C1- 145.38 trị giá 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Vật chứng:
- Một mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vario 150, màu cam đen, biển số 86B8-63136 của bà Cao Thị L Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
- Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu vàng đen, biển số 60C1-145.38 của ông Lê Đức H2, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
- Xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số 60B6-337.41 là xe máy do bà Nguyễn Thị H1 (mẹ ruột của Nguyễn Duy N) mua lại của bà Nguyễn Thị Thanh H3, Nguyễn Duy N đã sử dụng xe máy trên đi trộm cắp bà Nguyễn Thị H1 không biết. Đã trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H1.
Tại cáo trạng số 47/CT-VKSÐL-HS ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Nguyễn Duy N, Lê Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy N, Lê Văn T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Tình tiết tăng nặng:
Nguyễn Duy N và Lê Văn T hai lần trộm cắp tài sản trên hai triệu đồng nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra Nguyễn Duy N ngày 15/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/08/2021. Chưa được xóa án tích nên phải chịu thêm trách nhiệm hình sự về tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra Nguyễn Duy N và Lê Văn T đã thành khẩn khai báo, ngoài ra tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Duy T3 từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
-Về dân sự:
+Cao Thị L và ông Lê Đức H2 đã nhận lại xe không yêu cầu gì.
+Phạm Hoàng T1 cũng không yêu cầu gì về dân sự.
+Buộc Nguyễn Duy N, Lê Văn T liên đới nộp lại số tiền 6.000.000đồng đồng có được từ bán tài sản trộm cắp sung công qũy nhà nước.
Các bị cáo Nguyễn Duy N và Lê Văn T đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tại lời trình bày sau cùng đều xin được giảm nhẹ hình phạt, để sửa chữa, khắc phục lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phần thủ tục: Tại phiên tòa, bị hại Lê Đức H2; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phạm Hoàng T1, Hoàng Văn C1, Nguyễn Thị H1; Người làm chứng: Cao Thị N3, Ngô Quang P, Trần Thị Trà M đều vắng mặt. Việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó việc vắng mặt những người trên không làm ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt những người trên là đúng quy định của bộ luật tố tụng hình sự
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, kết luận giám định, bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
-Vào khoảng 02 giờ 00 ngày 21/3/2023 tại nhà bà Cao Thị N3 ở thôn B, xã S, Nguyễn Duy N và Lê Văn T trộm cắp 01 xe mô tô biển số 86B8-63136 của bà Cao Thị L với trị giá 35.000.000đồng (Mười triệu đồng).
-Vào khoảng 03 giờ 00 ngày 07/4/2023 tại quán C2 ở thôn B, xã S, Nguyễn Duy N và Lê Văn T trộm cắp 01 xe mô tô biển số 60C1- 14538 của Lê Đức H2 với trị giá 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).
Như vậy, từ ngày 21/03/2023 đến ngày 07/04/2023 Nguyễn Duy N và Lê Văn T hai lần trộm cắp tài sản với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt 45.000.000 đồng.
Các hành vi trên của Nguyễn Duy N và Lê Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 47/CT-VKSÐL-HS ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên, là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo là công dân đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng vì bản thân lười lao động, lại nghiện ma túy, muốn tiêu xài cá nhân nên đã cố tình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Thấy rằng, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó các bị cáo đều đóng vai trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do đó cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội
+Về tinh tiết tăng nặng:
Nguyễn Duy N và Lê Văn T hai lần trộm cắp tài sản trên hai triệu đồng nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra Nguyễn Duy N ngày 15/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/08/2021. Chưa được xóa án tích nên phải chịu thêm trách nhiệm hình sự về tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
+Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị hại Cao Thị L xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra đối với bị cáo Nguyễn Duy N có cung cấp thêm chứng cứ tại giai đoạn chuẩn bị xét xử là gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn. Nguyễn Duy N là lao động duy nhất (vợ Nguyễn Thị Ái D – đã chết 2022), hiện tại đang nuôi 02 con nhỏ, có sự xác nhận của UBND xã N, huyện T; Đối với bị cáo Lê Văn T có cung cấp thêm chứng cứ tại giai đoạn chuẩn bị xét xử là gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, Lê Văn T là lao động chính, còn chị Trần Thị Thùy N4 (vợ) hiện tại không có việc làm ổn định; hiện tại đang nuôi 02 con nhỏ có sự xác nhận của UBND xã Đ, huyện T. Vì vậy Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người liên quan không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Buộc Nguyễn Duy N, Lê Văn T phải liên đới nộp lại số tiền 6.000.000đồng thu lợi bất chính có được từ bán tài sản trộm cắp để sung công qũy nhà nước.
[5] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, các vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã được trả lại cho chủ sở hữu. Vì vậy Hội đồng xét xử không phải xem xét trong bản án này.
[6] Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên buộc phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 38; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 293 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
1.Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy N và Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 01 (một) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 12/04/2023).
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01(một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 26/05/2023).
2. Về dân sự:
-Buộc 02 bị cáo Nguyễn Duy N và Lê Văn T phải liên đới nộp lại số tiền 6.000.000đồng để sung công quỹ nhà nước; cụ thể mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền: 3.000.000đồng.
3. Về án phí HSST: Buộc các bị cáo Nguyễn Duy N và Lê Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo và bị hại Cao Thị L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/8/2023; bị hại Lê Đức H2; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Xuân Thuận |
Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 47/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Nhất và Lê Văn Tuấn trộm cắp xe máy
